<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	xmlns:georss="http://www.georss.org/georss" xmlns:geo="http://www.w3.org/2003/01/geo/wgs84_pos#" xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/"
	>

<channel>
	<title>VIỆT SỬ KÝ</title>
	<atom:link href="http://vietsuky.wordpress.com/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://vietsuky.wordpress.com</link>
	<description>Ba Sàm chép Sử Việt</description>
	<lastBuildDate>Fri, 24 Feb 2012 04:56:33 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.com/</generator>
<cloud domain='vietsuky.wordpress.com' port='80' path='/?rsscloud=notify' registerProcedure='' protocol='http-post' />
<image>
		<url>http://s2.wp.com/i/buttonw-com.png</url>
		<title>VIỆT SỬ KÝ</title>
		<link>http://vietsuky.wordpress.com</link>
	</image>
	<atom:link rel="search" type="application/opensearchdescription+xml" href="http://vietsuky.wordpress.com/osd.xml" title="VIỆT SỬ KÝ" />
	<atom:link rel='hub' href='http://vietsuky.wordpress.com/?pushpress=hub'/>
		<item>
		<title>73. GIẢI MẬT: TRẢI NGHIỆM CHUYỆN BÌNH THƯỜNG HÓA QUAN HỆ TRUNG-VIỆT VÀO THẬP NIÊN 1990</title>
		<link>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/21/72-giai-mat-trai-nghiem-chuyen-binh-thuong-hoa-quan-he-trung-viet-vao-thap-nien-1990/</link>
		<comments>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/21/72-giai-mat-trai-nghiem-chuyen-binh-thuong-hoa-quan-he-trung-viet-vao-thap-nien-1990/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 21 Feb 2012 14:00:04 +0000</pubDate>
		<dc:creator>vietsuky</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sử liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Ôn Gia Bảo]]></category>
		<category><![CDATA[Campuchia]]></category>
		<category><![CDATA[Giang Trạch Dân]]></category>
		<category><![CDATA[Lê Khả Phiêu]]></category>
		<category><![CDATA[Lý Bằng]]></category>
		<category><![CDATA[Lý Thế Thuần]]></category>
		<category><![CDATA[Ngô Tất Tố]]></category>
		<category><![CDATA[Nguyễn Cơ Thạch]]></category>
		<category><![CDATA[Nguyễn Tấn Dũng]]></category>
		<category><![CDATA[Nguyễn Văn Linh]]></category>
		<category><![CDATA[Phạm Văn ĐỒng]]></category>
		<category><![CDATA[Từ Đôn Tín]]></category>
		<category><![CDATA[Tiền Kỳ Tham]]></category>
		<category><![CDATA[Đặng Nghiêm Hoành]]></category>
		<category><![CDATA[Đỗ Mười]]></category>
		<category><![CDATA[Đinh Nho Liêm]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vietsuky.wordpress.com/?p=1824</guid>
		<description><![CDATA[dangshi.people.com.cn GIẢI MẬT: TRẢI NGHIỆM CHUYỆN BÌNH THƯỜNG HÓA QUAN HỆ TRUNG-VIỆT VÀO THẬP NIÊN 1990 Tác giả: Lý Gia Trung Người dịch: Quốc Thanh 29-4-2010 Ngày 18 tháng 1 năm 1950, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vừa mới được thành lập không lâu đã thiết lập ngay quan hệ ngoại giao với [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vietsuky.wordpress.com&amp;blog=29420608&amp;post=1824&amp;subd=vietsuky&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://dangshi.people.com.cn/GB/85039/11487908.html" target="_blank">dangshi.people.com.cn</a></p>
<h1><span style="color:#003366;">GIẢI MẬT: TRẢI NGHIỆM CHUYỆN</span></h1>
<h1><span style="color:#003366;"> BÌNH THƯỜNG HÓA QUAN HỆ TRUNG-VIỆT</span></h1>
<h1><span style="color:#003366;"> VÀO THẬP NIÊN 1990</span></h1>
<h3>Tác giả: Lý Gia Trung</h3>
<p>Người dịch:<strong> Quốc Thanh</strong></p>
<p>29-4-2010</p>
<p><span style="color:#003366;">Ngày 18 tháng 1 năm 1950, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vừa mới được thành lập không lâu đã thiết lập ngay quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trung Quốc là nước đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau khi đã công nhận nhà nước này. Từ thập niên 60 đến thập niên 70 của thế kỷ 20, Trung Quốc với tư cách là hậu phương lớn của Việt Nam, đã chi viện toàn lực cho các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ của Việt Nam, nhân dân hai nước kết tình hữu nghị sâu đậm. Hồ Chí Minh từng dùng câu thơ “<em>Mối tình hữu nghị Việt-Trung. Vừa là đồng chí vừa là anh em</em>” để ca ngợi mối quan hệ tốt đẹp Trung-Việt.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Từ sau thập niên 70 đến cuối thập niên 80 của thế kỷ 20, quan hệ giữa hai nước gặp khó khăn. Vấn đề chủ yếu là Việt Nam đưa quân xâm chiếm Campuchia, dẫn đến căng thẳng cục diện khu vực, đồng thời khiến cho mối quan hệ Trung-Việt bị rơi xuống đáy. Đến giữa thập niên 80, Việt Nam ý thức được gánh nặng trầm trọng do vấn đề Campuchia mang lại, nên vào tháng 3 năm 1985, lần đầu tiên đã tỏ ý muốn rút quân ra khỏi Campuchia. Tháng 12 năm 1986, sau khi Nguyễn Văn Linh  nhậm chức Tổng Bí thư, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam càng chú trọng bắt tay vào việc điều chỉnh các chính sách đối nội, đối ngoại ở biên độ lớn hơn, mong muốn giải quyết vấn đề Campuchia và cải thiện mối quan hệ với Trung Quốc. Nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình cũng đưa ra ý tưởng ổn định biên giới phía nam. Lúc này, mối quan hệ Trung-Việt tuy ở vào trạng thái không bình thường, nhưng cả hai bên đều cân nhắc đến đến chuyện áp dụng một sáng kiến làm dịu căng thẳng nào đó.</span></p>
<p><span id="more-1824"></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>Hòa giải</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Lúc 10 giờ rưỡi sáng ngày 14 tháng 12 năm 1988, Bộ Ngoại giao Việt Nam gọi điện tới Đại Sứ quán Trung Quốc nói, Thứ trưởng Thứ nhất Bộ Ngoại giao Việt Nam, Đinh Nho Liêm, mời Đại sứ Trung Quốc ở Việt Nam Lý Thế Thuần tới Bộ Ngoại giao Việt Nam vào lúc 10 giờ sáng ngày 15 để bàn về vấn đề quan hệ giữa hai nước, hy vọng Đại sứ Lý Thế Thuần cho biết, xem có thể tới đúng hẹn được không. Xét về lý, đại sứ tới Bộ Ngoại giao nước sở tại là chuyện hết sức bình thường, nhưng kể từ khi mối quan hệ Trung-Việt trở nên xấu đi, nên Đại Sứ quán Trung Quốc gần như không còn qua lại gì với các bộ, ngành phía Việt Nam nữa. Cho nên, phía Việt Nam bất ngờ gọi điện tới như vậy tất nhiên đã khiến cho sứ quán hết sức thận trọng, không dám khinh suất bày tỏ thái độ, mà ngay lập tức báo cáo thỉnh thị trong nước. Tối hôm đó, trong nước đã trả lời là, Lý Thế Thuần có thể tới gặp Đinh Nho Liêm, chủ yếu là xem đối phương nói những gì để báo cáo lại với trong nước, đồng thời cũng tìm hiểu luôn ý đồ của phía Việt Nam, nhưng không cần phải bày tỏ thái độ gì trong cuộc gặp mặt. 　　</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Sáng ngày 15, đúng giờ hẹn, Lý Thế Thuần tới Bộ Ngoại giao Việt Nam. Đinh Nho Liêm trao trực tiếp bức thư của Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch gửi cho Bộ trưởng Tiền Kỳ Tham, yêu cầu phía Trung Quốc đồng ý cho Nguyễn Cơ Thạch được tới Bắc Kinh vào trước tháng 3 năm 1989 để tổ chức cuộc gặp mặt với Tiền Kỳ Tham. Bức thư viết: “<em>Chúng tôi cho rằng, thời cơ để hai nước Việt-Trung ngồi lại với nhau đã chín muồi. Chúng ta hãy hợp tác với nhau, trên cơ sở đặt nền móng hòa giải dân tộc giữa các bên ở Campuchia để tạo điều kiện cho việc đi đến các giải pháp chính trị một cách ổn thỏa. Theo tinh thần này, tôi mạn phép được tới Bắc Kinh trong thời gian sớm nhất mà ông cho là thích hợp, để tổ chức một cuộc gặp mặt bí mật hoặc công khai</em>”.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Đinh Nho Liêm còn bổ sung thêm, Nguyễn Cơ Thạch trước đây từng 2 lần yêu cầu được tới Bắc Kinh, phía Trung Quốc đều nói Tiền Kỳ Tham đang bận công việc, xin phía Việt Nam thông cảm. Hiện tại phía Việt Nam mong ông Tiền Kỳ Tham có thể thu xếp được thời gian trong vòng 3 tháng để gặp Nguyễn Cơ Thạch. Phía Việt Nam thực sự mong muốn sớm giải quyết được vấn đề Campuchia, thực hiện bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, nhằm thuận ứng được với xu thế phát triển chung của thế giới hiện tại.       </span></p>
<p><span style="color:#003366;">Trong nước đã nghiên cứu cẩn thận bức thư của Nguyễn Cơ Thạch, cùng buổi nói chuyện với Đinh Nho Liêm, cho rằng lập trường của Việt Nam về vấn đề Campuchia đã xuất hiện việc giảm lập trường cứng rắn mới, có thể tiến hành tiếp xúc với phía Việt Nam về vấn đề quan hệ Trung-Việt và nhất là về vấn đề Campuchia. Nhưng xét về cuộc gặp mặt cấp bộ trưởng ngoại giao hai nước là một sáng kiến chính trị quan trọng, thì trong bối cảnh quan hệ giữa hai nước khi ấy, thời cơ vẫn chưa chín muồi.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Tiếp đó, vào ngày 23 tháng 12 đã trả lời Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc mời Lý Thế Thuần hẹn với Đinh Nho Liêm: Phía Trung Quốc cho rằng, vẫn còn nhiều công việc chuẩn bị phải làm để thực hiện cuộc gặp gỡ cấp bộ trưởng ngoại giao hai nước, đề nghị phía Việt Nam cử một thứ trưởng ngoại giao tới Bắc Kinh trong thời gian gần nhất về việc này, để sớm tổ chức trao đổi nội bộ về các giải pháp chính trị, giải quyết vấn đề Campuchia. Phía Trung Quốc còn đề nghị không công bố công khai bức thư của Nguyễn Cơ Thạch, chuyện trao đổi tiếp xúc giữa hai bên cũng không đưa tin công khai.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Sáng ngày 24 tháng 12, Lý Thế Thuần tới gặp Đinh Nho Liêm để truyền đạt ý kiến nói trên của phía Trung Quốc cho phía Việt Nam. Do trước đây phía Trung Quốc đã hai lần không chấp nhận gặp mặt Nguyễn Cơ Thạch, cho nên không thể dò được lần này phía Việt Nam sẽ trả lời phía Trung Quốc ra sao. Trả lời của Lý Thế Thuần tuy không đề cập đến chuyện Nguyễn Cơ Thạch tới Bắc Kinh, nhưng đồng ý cho phía Việt Nam cử một thứ trưởng ngoại giao tới Bắc Kinh, thực tế là lập trường cũng đã bớt cứng rắn, điều này khiến cho Đinh Nho Liêm không khỏi bất ngờ.  </span></p>
<p><span style="color:#003366;">Đinh Nho Liêm hai lần bày tỏ thái độ “hết sức cảm ơn”. Ông nói, phía Việt Nam hết sức hoan nghênh sự trả lời nhanh chóng từ phía Trung Quốc về bức thư của Nguyễn Cơ Thạch, hoan nghênh phía Trung Quốc đã bộc lộ thành ý trong lời phúc đáp. Muốn tăng cường thêm sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai phía Việt-Trung, cần sớm tổ chức cuộc gặp mặt nội bộ giữa hai nước. Phía Trung Quốc đề nghị phía Việt Nam cử trước một thứ trưởng ngoại giao tới Bắc Kinh, để chuẩn bị cho cuộc gặp mặt cấp bộ trưởng ngoại giao hai nước, đây là một bước đi tốt, đồng thời cũng rất cần thiết. Ông còn nói, phía Việt Nam nhất trí với ý kiến của phía Trung Quốc, sự tiếp xúc và trao đổi giữa hai nước hiện tại cần được tiến hành bí mật, không công khai.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Lưu Thuật Khanh nói, về thời điểm cuộc gặp mặt, phía Việt Nam có thể nêu ý kiến trước, phía Trung Quốc sẽ xem xét. Phía Trung Quốc cho là vào đầu tuần hay trung tuần tháng 1 năm 1989 đều có thể được. Về nội dung cuộc gặp mặt, phía Trung Quốc biết vấn đề mà phía Việt Nam quan tâm nhất là nhanh chóng thực hiện bình thường hóa quan hệ giữa hai nước. Còn phía Trung Quốc thì cho là phải giải quyết vấn đề Campuchia trước, rồi sau đó mới nói đến chuyện bình thường hóa quan hệ giữa hai nước. Lưu Thuật Khanh nhấn mạnh, trong cuộc trao đổi lần này, thứ trưởng ngoại giao hai nước sẽ tiến hành thảo luận, xoay quanh việc làm sao để có thể giải quyết vấn đề Campuchia một cách công bằng, hợp lý, còn vấn đề bình thường hóa quan hệ giữa hai nước thì để sau này hãy thảo luận.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Ngày 31 tháng 12, chuyên viên Vụ Trung Quốc Bộ ngoại giao Việt Nam, Nguyễn Bá Cự đã thông báo cho Bí thư thứ hai Đại sứ quán Trung Quốc ở Việt Nam Hồ Càn Văn: Đoàn của ông Đinh Nho Liêm dự định sẽ đáp máy bay hàng không dân dụng của Trung Quốc từ Bangkok tới Bắc Kinh vào (thứ hai) ngày 16  hoặc vào (thứ tư) ngày 18 tháng 1 năm 1989. Do khi đó cả đường sắt, đường bộ lẫn đường hàng không giữa hai nước đều đã bị gián đoạn, nên đoàn Đinh Nho Liêm chỉ có thể đi đường vòng để tới Bắc Kinh.  </span></p>
<p><span style="color:#003366;">Ngày 10 tháng 1 năm 1989, chuyên viên Nguyễn Bá Cự thông báo với Hồ Càn Văn về danh sách đoàn Đinh Nho Liêm. Nguyễn Bá Cự nói, mới đầu dự định đoàn đại biểu gồm 4 người, nhưng phía Việt Nam do nhận thức đầy đủ về ý nghĩa quan trọng của cuộc trao đổi lần này, cho nên đã quyết định từ 4 người tăng lên đến 8 người, đó là Thứ trưởng thứ nhất Đinh Nho Liêm, Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Nguyễn Minh Phương, Trợ lý Bộ trưởng Bộ ngoại giao Đặng Nghiêm Hoành, Tham tán sứ quán tại Trung Quốc Hoàng Như Lý, Vụ trưởng Vụ Trung Quốc Bộ ngoại giao Trần Hữu Nghĩa, chuyên viên Vụ Trung Quốc Bộ ngoại giao kiêm phiên dịch Nguyễn Bá Cự, Bí thư thứ ba Sứ quán tại Trung Quốc Chu Công Phùng và Tùy viên Sứ quán tại Trung Quốc Bùi Trọng Vân. Nguyễn Bá Cự còn nói với Hồ Càn Văn rằng, <strong>phía Trung Quốc đồng ý bàn bạc với phía Việt Nam là một niềm khích lệ to lớn đối với cả đất nước Việt Nam</strong>. Việt-Trung đối kháng nhau đã 10 năm, không thể tiếp tục đối kháng được nữa. Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã phổ biến cho các cán bộ trung cao cấp trong cả nước về việc hai nước Việt – Trung sắp sửa ngồi trao đổi với nhau, tất cả mọi cán bộ đều tỏ ý hoan nghênh, đồng thời hy vọng cuộc trao đổi sẽ thành công. Nguyễn Cơ Thạch cũng nói phía Việt Nam sẽ không bỏ lỡ cơ hội nữa, mà sẽ nỗ lực cùng với phía Trung Quốc để đi đến một hiệp định cả hai bên đều chấp nhận được.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Theo sự sắp xếp của nhân viên tham gia cuộc trao đổi bên phía Việt Nam, phía Trung Quốc quyết định sẽ có 6 người tham gia, đó là Thứ trưởng Lưu Thuật Khanh, Trợ lý Bộ trưởng Từ Đôn Tín, Vụ phó Vụ Á châu Trương Thanh, Tham tán Tạ Nguyệt Nga, Trưởng ban Lý Gia Trung, Phó ban kiêm phiên dịch Hồ Chính Dược. </span></p>
<p><span style="color:#003366;">Ngày 13 tháng 1 năm 1989, đoàn Đinh Nho Liêm rời Hà Nội tới Bangkok. Thứ trưởng ngoại giao Việt Nam Nguyễn Dy Niên, Quyền Vụ trưởng Vụ Trung Quốc Ngô Tất Tố và Đại sứ Lý Thế Thuần đã ra sân bay tiễn đoàn. Tại sân bay, Đinh Nho Liêm nói với Lý Thế Thuần, tư tưởng chỉ đạo của phía Việt Nam về cuộc trao đổi lần này là xóa bỏ bất đồng, hiểu biết lẫn nhau và nhượng bộ cho nhau, hy vọng cả hai bên quan tâm và lắng nghe ý kiến của đối phương, để cuộc trao đổi đạt được nhiều thành quả hơn. </span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>Trao đổi</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Lúc 6 giờ 20 phút chiều ngày 14 [tháng 1 năm 1989], đoàn Đinh Nho Liêm đáp máy bay dân dụng hàng không của Trung Quốc từ Bangkok qua đường Quảng Châu tới Bắc Kinh. Do cuộc trao đổi mật, nên máy bay chỉ dừng lại trên một mảnh đất đóng băng ở một góc tương đối khuất của sân bay thủ đô, tôi ra sân bay đón với tư cách là Trưởng đoàn Bộ Ngoại giao. Lưu Thuật Khanh, Trương Thanh và Đại sứ Việt Nam Nguyễn Minh Phương đợi đón ở phòng nghỉ của sân bay cũ.  Khi ấy, có mấy chục nhà báo ngoại quốc nghe nói có quan chức cao cấp Việt Nam tới Bắc Kinh, đã vội vã lao tới sân bay. Do sự sắp xếp khéo léo của phía Trung Quốc mà đã tránh được các nhà báo, khiến cho họ chẳng thu hoạch được gì. Phía Việt Nam từng nói trước là đoàn Đinh Nho Liêm sẽ ở Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh trong thời gian lưu lại Bắc Kinh. Sau do phía Trung Quốc tỏ ý muốn bố trí cho họ ở Thanh Lộ Đường trong khu Nhà khách quốc gia Điếu Ngư Đài, mọi chi phí do phía Trung Quốc chu cấp. Phía Việt Nam tiếp nhận thiện ý của phía Trung Quốc đồng thời bày tỏ sự cảm ơn.   　</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Tối ngày 15, Lưu Thuật Khanh mở dạ tiệc tại lầu số 7 Điếu Ngư Đường để đón tiếp đoàn Đinh Nho Liêm. Lưu Thuật Khanh nói, trước đây quan hệ giữa hai nước rất tốt, sau này quan hệ trở nên xấu đi, chúng ta rất đau lòng. Phía Trung Quốc cho rằng nếu tiếp tục đối kháng thì sẽ không phù hợp với lợi ích của nhân dân hai nước, quan hệ giữa hai nước cần được khôi phục lại bình thường. Nhưng trước tiên cần giải quyết sự bất đồng lớn nhất giữa hai nước – vấn đề Campuchia. Nhiệm vụ của cuộc trao đổi lần này rất quan trọng, mang một ý nghĩa rất lớn, tuy nói là trao đổi nội bộ, nhưng cả thế giới đều đã biết. Chúng ta cần làm việc cho thật tốt để có được thành quả, không phụ lòng mong mỏi của nhân dân hai nước và dư luận quốc tế.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Đinh Nho Liêm nói, kể từ 10 năm nay lần đầu tiên ông có cơ hội được ngồi cùng với các đồng chí Trung Quốc, đây là sự mở đầu cho việc thực hiện bình thường hóa quan hệ giữa hai nước. Việt Nam và Trung Quốc dần cải thiện mối quan hệ cho phù hợp với lợi ích của nhân dân hai nước, và cũng phù hợp với xu thế chung trên toàn thế giới là đi vào hòa hoãn và giải quyết bất đồng bằng thương lượng. Ông nói, phía Việt Nam đã chuẩn bị thảo luận vấn đề Campuchia với phía Trung Quốc, nhưng cũng phải bàn tới cả vấn đề bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.  </span></p>
<p><span style="color:#003366;">Sáng ngày 16, cuộc trao đổi được diễn ra tại phòng họp tầng 4 trụ sở Bộ Ngoại giao cũ trong Triều Dương Môn và kéo dài cho tới chiều. Ngày 17, Từ Đôn Tín, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc và Đặng Nghiêm Hoành, Trợ lý Bộ trưởng Bộ ngoại giao đã tiến hành thảo luận suốt cả ngày. Hai bên chú trọng thảo luận về vấn đề Campuchia, kết quả chủ yếu là:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">1) Về vấn đề Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, phía Việt Nam nhắc lại, sẽ căn cứ theo văn bản khung về các giải pháp chính trị cho vấn đề Campuchia, chậm nhất đến tháng 9 năm 1989 sẽ rút toàn bộ quân khỏi Campuchia, đồng thời nói đây là quyết sách từ người lãnh đạo tối cao của Việt Nam. Phía Trung Quốc không có đề nghị gì khác về thời hạn rút quân mà phía Việt Nam đã hứa, nhưng nhấn mạnh, rút quân phải là rút quân thật.  </span></p>
<p><span style="color:#003366;">2)  Về các mặt như ngừng viện trợ bên ngoài từ các phía cho Campuchia, bảo đảm địa vị trung lập của Campuchia, thực hành sự giám sát quốc tế và cung cấp sự bảo đảm quốc tế&#8230;, ý kiến cả hai bên thiên về nhất trí.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">3)  Sự bất đồng chủ yếu nhất giữa hai bên là làm sao bảo đảm được hòa bình ở Campuchia sau khi Việt Nam rút quân. Để tránh cho Campuchia khỏi xảy ra nội chiến, phía Trung Quốc chủ trương trong giai đoạn quá độ từ khi Việt Nam rút hết quân cho đến khi chưa tiến hành tổng tuyển cử thành lập chính phủ mới ở Campuchia, cần thành lập chính phủ liên hợp có bốn bên ở Campuchia, do Sihanouk đứng đầu, để chính phủ liên hợp này chủ trì cuộc tổng tuyển cử; đồng thời đông kết các phái quân đội, giảm thiểu các phái quân đội tới quân số ngang nhau, thành lập quân quốc phòng thống nhất. Cái gọi là bốn bên ở Campuchia chỉ một phe là chính quyền Phnom Penh cho Việt Nam hỗ trợ, một phe là lực lượng đối kháng. Lực lượng đối kháng lại bao gồm 3 phe là phe Sihanouk, phe Khơme Đỏ và phe Son Sann. Phía Việt Nam cho rằng, đây là phương diện nội bộ của vấn đề Campuchia, tức vấn đề nội bộ của Campuchia, cần để các bên của Campuchia bàn bạc giải quyết, chứ không nên để hai bên Việt-Trung bàn bạc thảo luận.   </span><br />
<span style="color:#003366;"> 　 　</span><br />
<span style="color:#003366;"> Đồng thời, phía Việt Nam nhiều lần yêu cầu thảo luận về vấn đề bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, đã đưa nhiều kiến nghị cụ thể như hai bên chấm dứt các tuyên truyền thù địch, chấm dứt các hành động thù địch ở đường biên giới trên bộ và các vùng hải đảo của hai nước, các lực lượng vũ trang ở vùng biên giới hai bên cần tránh đụng độ, cung cấp phương tiện đi lại và mưu sinh cho người dân vùng biên của hai nước&#8230;   </span></p>
<p><span style="color:#003366;">Phía Trung Quốc bày tỏ, cần giải quyết trước vấn đề Campuchia, để tạo điều kiện cho việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước. Tin tưởng rằng, cùng với việc Việt Nam rút quân khỏi Campuchia và giải quyết vấn đề Campuchia, mối quan hệ Trung-Việt sẽ dần được cải thiện.    </span></p>
<p><span style="color:#003366;">Ngày 19 tháng 1, Tiền Kỳ Tham đã tiến hành hội kiến với đoàn Đinh Nho Liêm, đã có bài phát biểu quan trọng về việc giải quyết vấn đề Campuchia và việc cải thiện mối quan hệ Trung-Việt. Tiền Kỳ Tham nói, ý kiến của phía Trung Quốc đã trình bày trong cuộc trao đổi là ý kiến của Trung ương chúng tôi, đồng chí Đinh Nho Liêm hãy về báo cáo lại với ban lãnh đạo Việt Nam, đồng thời xem xét thật kỹ lưỡng. Trung-Việt có tình hữu nghị truyền thống, lại là nước láng giềng, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam, Trung Quốc đã góp sự hy sinh dân tộc. Nhưng những chuyện phát sinh sau này, đã tạo nên vấn đề giữa hai nước, kéo dài tới 10 năm trời. Tiền Kỳ Tham nói, xu thế của cục diện quốc tế hiện nay là hòa hoãn và đối thoại, nhằm chấm dứt các xung đột khu vực. Các nước đều phải dồn sức mạnh vào xây dựng kinh tế, hy vọng nhân dân Việt Nam cũng được sống một cuộc sống hòa bình, xây dựng Việt Nam trở thành một quốc gia giàu mạnh. Chính vì thế, chúng tôi giữ thái độ hoan nghênh đối với việc Việt Nam quyết định rút quân khỏi Campuchia vào trước tháng 9 năm nay, hy vọng rằng quyết định từ phía Việt Nam sẽ được thực hiện một cách thực sự. Cuộc trao đổi nội bộ lần này đã đạt được nhiều điểm chung.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Về vấn đề nội bộ của Campuchia, tất nhiên cần do bốn bên Campuchia tự giải quyết, với điều kiện không có bên ngoài can thiệp. Nhưng với tư cách là nước đương sự, Việt Nam cùng với các nước có liên quan trực tiếp tới vấn đề Campuchia, như Liên Xô, Trung Quốc, Thái Lan, cần có chủ trương rõ ràng về vấn đề này, đó là sau khi quân đội nước ngoài rút quân và chấm dứt viện trợ từ nước ngoài, Campuchia cần thực hiện liên hợp bốn bên, thực hiện hòa giải dân tộc, không được để xảy ra nội chiến và hỗn loạn, đây là một vấn đề hết sức quan trọng. Các nước có liên quan đều cần giữ thái độ tích cực và mang tính xây dựng, Việt Nam lại càng phải như vậy. Trung Quốc không gây khó dễ cho Việt Nam, những cũng mong Việt Nam cần có thành ý. Cuộc trao đổi lần này đã có được sự khởi đầu tốt đẹp, nên tiếp tục. Có những vấn đề phía Trung Quốc còn phải chuẩn bị thêm. Hoan nghênh đồng chí Đinh Nho Liêm tới Bắc Kinh sau một thời gian ngắt quãng. Tiền Kỳ Tham nhờ Đinh Nho Liêm chuyển lời thăm hỏi của mình tới Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch, nói rằng đã nhận được thư của Nguyễn Cơ Thạch. Tiền Kỳ Tham nói, đúng như trong lời phúc đáp từ phía Trung Quốc, cuộc gặp mặt cấp bộ trưởng giữa hai bên còn nhiều công việc chuẩn bị cần làm, chỉ khi vấn đề Campuchia có tiến triển, thì mới có thể xem xét được. Nếu như những phương diện cơ bản trong vấn đề Campuchia đã được giải quyết, thì việc cải thiện và bình thường hóa quan hệ Trung-Việt sẽ là kết quả đương nhiên.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Đinh Nho Liêm cảm ơn cuộc tiếp kiến của Tiền Kỳ Tham, đồng thời chuyển lời thăm hỏi của Nguyễn Cơ Thạch đến Tiền Kỳ Tham. Đinh Nho Liêm nhấn mạnh, giải quyết sớm vấn đề Campuchia và thực hiện bình thường hóa quan hệ Việt-Trung, tập trung lực lượng vào xây dựng kinh tế là một chiến lược lâu dài của Việt Nam. Thông qua cuộc trao đổi lần này, hai bên tăng thêm sự hiểu biết lẫn nhau, đã có được sự nhất trí ở rất nhiều phương diện. Tất nhiên vẫn còn có những bất đồng. Phía Việt Nam sẵn sàng nhìn về phía trước, mong muốn tiếp tục được trao đổi ý kiến với phía Trung Quốc. Bản thân ông sẵn sàng tới Bắc Kinh bất cứ lúc nào để giải quyết tốt những vấn đề chưa đi đến sự cảm thông.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Trong cuộc họp toàn thể cuối cùng vào ngày 18, Đinh Nho Liêm đánh giá cuộc trao đổi lần này là “một bước mang tính đột phá” trong quan hệ Việt-Trung.</span><br />
<span style="color:#003366;"> 　　</span><br />
<span style="color:#003366;"> Đinh Nho Liêm khi ấy là Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, từng là Đại sứ ở Liên Xô, là một nhà ngoại giao rất tinh thông lão luyện. Từ năm 1977 đến năm 1978, ông từng làm trưởng đoàn Đoàn Đại biểu Chính phủ Việt Nam tới thăm Bắc Kinh, tiến hành đàm phán về vấn đề biên giới đất liền với Thứ trưởng Ngoại giao Hàn Niệm Long của Trung Quốc. Tôi đã tham gia cuộc đàm phán lần ấy với tư cách là phiên dịch và thư ký. Trong bối cảnh quan hệ giữa hai nước khi đó, ngôn từ đàm phán của hai bên đều không tránh khỏi quá nặng nề. Nhưng 10 năm sau, Đinh Nho Liêm lại trở nên cẩn trọng và chừng mực khác thường, đi đến đâu cũng tỏ ra hết sức nhã nhặn, như chuyến đến Bắc Kinh lần này.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Ngày đến Bắc Kinh, khi tôi theo ông đi vào sảnh phòng nghỉ của sân bay thủ đô cũ, chỉ thấy ông nhẹ nhàng cởi áo khoác ngoài treo lên giá, sau đó lấy từ trong túi bộ Âu phục ra một chiếc lược, chải đầu cho thật ngay ngắn rồi mới bước vào phòng nghỉ để gặp Lưu Thuật Khanh và những người cùng đi. Trong buổi dạ tiệc do Lưu Thuật Khanh tổ chức, Đinh Nho Liêm rất chú ý thể hiện bộ dạng thoải mái và tươi tắn. Ông còn tự giới thiệu mình rất thích thơ Đường, rồi ngâm ngay tại chỗ mấy câu thơ của Thôi Hộ “<em>Khứ niên kim nhật thử môn trung, Nhân diện đào hoa tương ánh hồng, Nhân diện bất tri hà xứ khứ, Đào hoa y cựu tiếu đông phong</em>”. Trong cuộc trao đổi, tuy không đồng ý với một vài ý kiến nào đó từ phía Trung Quốc, ông không phản bác lại ngay trước mặt, mà kiên nhẫn lắng nghe, rồi nói sẽ về báo cáo lại với lãnh đạo trong nước.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Khi ấy, Hàn Niệm Long đã lui xuống từ cương vị Thứ trưởng, sang giữ chức Hội trưởng Học hội Ngoại giao. Để biểu thị sự đối đãi thân thiện và lịch sự, trưa ngày 19, Hàn Niệm Long đã đứng ra mời đoàn Đinh Nho Liêm tới thưởng thức món vịt quay ở tiệm vịt quay Toàn Tụ Đức trước cổng chính. Đinh Nho Liêm khi nhìn thấy đối thủ đàm phán Hàn Niệm Long từ 10 năm trước, đã chạy ngay đến ôm ông. Đoàn Đinh Nho Liêm rời Bắc Kinh vào ngày 20, đi qua Thâm Quyến, Hongkong rồi về nước. Trương Thanh và tôi cùng Cao Đức ở Vụ Á châu đã cùng đi theo đoàn tới Thâm Quyến tham quan thăm hỏi. Tại Thâm Quyến, Đinh Nho Liêm nắm chặt hai cánh tay tôi nói: “<em>Hãy tin rằng chúng tôi nhất định sẽ rút hết quân khỏi Campuchia</em>”.  </span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>Bình thường hóa quan hệ</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Đầu tháng 9 năm 1990, Tổng Bí thư Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Đỗ Mười và Cố vấn Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, Phạm Văn Đồng, theo lời mời đã tới Thành Đô, Tứ Xuyên, tổ chức cuộc gặp mặt nội bộ với Tổng bí thư Giang Trạch Dân, Thủ tướng Lý Bằng, tổ chức cuộc gặp mặt cấp cao về các giải pháp chính trị cho vấn đề Campuchia và vấn đề quan hệ Trung-Việt, đã có được sự đồng nhận thức quan trọng, trải phẳng con đường bình thường hóa quan hệ hai nước. Khi kết thúc cuộc gặp mặt, Giang Trạch Dân đã dẫn hai câu thơ của nhà thơ đời Thanh Giang Vĩnh là “<em>Độ tận kiếp ba huynh đệ tại/ Tương phùng nhất tiếu mẫn ân cừu</em>”(1). Để đáp lại, Nguyễn Văn Linh tối đó đã viết 4 câu thơ: “<em>Huynh đệ chi giao sổ đại truyền/ Oán hận khuynh khắc hóa vân yên/ Tái tương phùng thời tiếu nhan triển/ Thiên niên tình nghị hựu trùng kiến</em>” (2).</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Tháng 11 năm 1991, Tổng bí thư Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam Đỗ Mười, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Võ Văn Kiệt theo lời mời đã chính thức đi thăm hữu nghị Trung Quốc, tiến hành hội đàm với Giang Trạch Dân và Lý Bằng, công bố thông cáo chung giữa hai bên, tuyên bố thực hiện bình thường hóa quan hệ Trung-Việt. Gần 20 năm nay kể từ lúc đó, với sự nỗ lực chung của hai bên, sự giao lưu và hợp tác trong nhiều lĩnh vực giữa hai nước đã không ngừng phát triển và đi vào chiều sâu, sự tin cậy lẫn nhau dần dần tăng lên.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Tháng 2 năm 1999, trong thời gian Lê Khả Phiêu, Tổng Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tới thăm Trung Quốc, lãnh đạo hai nước đã ra “Tuyên bố chung”, xác định <strong>phương châm 16 chữ</strong> chỉ đạo sự phát triển lành mạnh mối quan hệ Trung-Việt ở thế kỷ mới, đó là  &#8221;<strong><em>Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai</em></strong>&#8220;. Sau đó, lãnh đạo hai nước còn xác định thêm mục tiêu nỗ lực của hai nước và nhân dân hai nước, đó là vĩnh viễn trở thành “<strong><em>Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt</em></strong>”.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Đương nhiên giữa hai bên vẫn còn tồn tại một số bất đồng và tranh cãi. Tháng 4 năm 2009, Thủ tướng Ôn Gia Bảo khi tham dự Hội nghị thường niên Diễn đàn Châu Á Bác Ngao, đã nói với Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, vấn đề Nam Hải (tức Biển Đông) là vấn đề lịch sử cuối cùng tồn đọng, còn chưa được giải quyết giữa hai nước Trung-Việt. Hai bên phải nhìn xa trông rộng, xuất phát từ đại cục, tích cực duy trì sự ổn định ở Nam Hải, đẩy mạnh sự hợp tác hai bên cùng có lợi, tranh thủ tiến những bước đi tích cực trong việc đồng khai thác ở Nam Hải. Tin tưởng rằng, với nỗ lực chung của hai bên, trong những năm tháng sắp tới, mối quan hệ láng giềng tốt đẹp giữa hai nước Trung-Việt sẽ phát triển theo hướng ổn định hơn.</span></p>
<p><strong>Nguồn:  <a href="http://dangshi.people.com.cn/GB/85039/11487908.html" target="_blank">Mạng tin tức Trung Quốc Đảng Cộng sản</a></strong></p>
<p><strong>&#8211;</strong></p>
<p><strong>Ghi chú:</strong></p>
<p>(1) Tạm dịch: Trải qua  cơn sóng gió/ tình anh em vẫn còn/ Gặp nhau cười một cái quên hết oán thù.</p>
<p>(2) Tạm dịch: Anh em chơi với nhau đã mấy thế hệ/ Oán hận trong khoảnh khắc đã biến thành mây khói/ Khi gặp lại nhau cười rạng rỡ/ Tình nghĩa ngàn năm xây dựng lại.</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/vietsuky.wordpress.com/1824/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/vietsuky.wordpress.com/1824/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/vietsuky.wordpress.com/1824/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/vietsuky.wordpress.com/1824/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/vietsuky.wordpress.com/1824/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/vietsuky.wordpress.com/1824/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/vietsuky.wordpress.com/1824/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/vietsuky.wordpress.com/1824/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/vietsuky.wordpress.com/1824/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/vietsuky.wordpress.com/1824/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/vietsuky.wordpress.com/1824/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/vietsuky.wordpress.com/1824/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/vietsuky.wordpress.com/1824/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/vietsuky.wordpress.com/1824/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vietsuky.wordpress.com&amp;blog=29420608&amp;post=1824&amp;subd=vietsuky&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/21/72-giai-mat-trai-nghiem-chuyen-binh-thuong-hoa-quan-he-trung-viet-vao-thap-nien-1990/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>7</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/c3f46a060a458b1967070ec26d4dd571?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">vietsuky</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>72. TRẦN NHÂN TÔNG, SỰ NGHIỆP ĐỜI VÀ ĐẠO</title>
		<link>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/20/72-tran-nhan-tong-su-nghiep-doi-va-dao/</link>
		<comments>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/20/72-tran-nhan-tong-su-nghiep-doi-va-dao/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 20 Feb 2012 13:27:17 +0000</pubDate>
		<dc:creator>vietsuky</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sử liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Trao đổi]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vietsuky.wordpress.com/?p=1816</guid>
		<description><![CDATA[TRẦN NHÂN TÔNG, SỰ NGHIỆP ĐỜI VÀ ĐẠO Trần Thị Băng Thanh               Trần Nhân Tông tên là Khâm, còn có tên là Phật Kim và Nhật Tôn, Nhân Tông là thụy hiệu, con trưởng Trần Thánh Tông, sinh ngày 11 tháng Mười một năm Mậu ngọ (7. XII. 1258), làm vua từ Kỷ [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vietsuky.wordpress.com&amp;blog=29420608&amp;post=1816&amp;subd=vietsuky&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h1><span style="color:#003366;"><strong>TRẦN NHÂN TÔNG, SỰ NGHIỆP ĐỜI VÀ ĐẠO</strong></span></h1>
<p style="text-align:left;" align="right"><strong><em>Trần Thị Băng Thanh</em></strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>            </strong>Trần Nhân Tông tên là Khâm, còn có tên là Phật Kim và Nhật Tôn, Nhân Tông là thụy hiệu, con trưởng Trần Thánh Tông, sinh ngày 11 tháng Mười một năm Mậu ngọ (7. XII. 1258), làm vua từ Kỷ mão (1279) đến Quý tỵ (1293), niên hiệu là Thiệu Bảo (1279 &#8211; 1284) và Trùng Hưng (1285 – 1293) 5 năm làm thượng hoàng, xuất gia 8 năm. Mất ngày 3 tháng Mười một, năm Mậu thân (16. XI. 1308) tại am Ngọa Vân, núi Yên Tử.<strong></strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Các sử gia thời trung đại, Ngô Sĩ Liên và Ngô Thì Sĩ đã nhất tri khen Trần Nhân Tông là &#8220;vị vua hiền&#8221; đời Trần, “sự nghiệp thời trùng hưng hơn hẳn các đời trước”<a title="" href="#_ftn1"><span style="color:#003366;">(1)</span></a>. Trong 12 vua Trần chỉ Trần Nhân Tông được khen là “vua hiền”. Khái niệm “hiền” trước đây bao gồm cả trí tuệ, tài năng và đức độ. Quả thực Nhân Tông xứng đáng được đứng trong hàng “thế giới người hiền”. Trải ba mươi năm làm vua, làm thượng hoàng, làm vị tổ Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam, ông đã để lại một sự nghiệp vô cùng lớn lao mà dường như danh hiệu “vua hiền” chưa hẳn là đã thể hiện được đầy đủ. Sự nghiệp ấy được thể hiện trên ba lĩnh vực.</span></p>
<p><span id="more-1816"></span></p>
<p><span style="color:#003366;">            <strong><em>1. Một vị vua hiền trong sự nghiệp trùng hưng đất nước.  </em></strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Điều đầu tiên phải kể đến là chiến công đánh thắng hai cuộc giặc Nguyên – Mông xâm lược bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ đất nước. Thực ra đối với Việt Nam, việc chống ngoại xâm bảo vệ đất nước (mà “bắt buộc” phải chiến thắng) như đã là số mệnh và đã thành truyền thống. Cứ tính trong một nghìn năm thời trung đại ta đã thấy có đến 8/9 cuộc chống xâm lăng thành công rực rỡ. Riêng nhà Trần có đến 3 cuộc và Trần Nhân Tông phải đảm trách 2 cuộc, cách nhau chưa đầy 3 năm. </span></p>
<p><span style="color:#003366;">Theo một số nhà nghiên cứu về Mông Cổ thì người Thát có một chủ trương, khi các con đã lớn, vua Thát thường tổ chức những cuộc viễn chinh, vùng đất mới chiếm sẽ giao cho một hoàng tử làm nơi lập nghiệp, lập vương triều mới. An Nam chính là mục tiêu mà Hốt Tất Liệt muốn lập cơ đồ cho thái tử Thoát Hoan. Chỉ cần nghĩ rằng giặc Thát là một đội quân hùng mạnh đã quấy đảo cả châu Âu thời đó, lại có được sự bày mưu tính kế của các quan chức người Hán thâm nho, từ đó mà có phần am hiểu Việt Nam, như Vương Vũ Xứng chẳng hạn, lại xuất phát từ một mục đích rất căn cốt trong truyền thống người Thát thì đủ thấy tính chất quyết liệt của cuộc chiến đến thế nào. </span></p>
<p><span style="color:#003366;">Tư liệu lịch sử còn cho biết rằng cùng với cuộc xâm lăng Việt Nam, nhà Nguyên cũng chuẩn bị song song một cuộc đánh chiếm Nhật Bản. Nhưng do thất bại nặng năm 1285. Hốt tất Liệt đã bãi bỏ cuộc tấn công Nhật Bản, tập trung hết lực lượng cho cuộc đánh Việt Nam lần thứ 3, năm 1288. Nhưng trận này vẫn thất bại, Hốt Tất Liệt tiếp tục lập tổng hành dinh chuẩn bị cho chiến dịch xâm lược lần thứ tư năm 1294. Cuộc chiến có vẻ như không cân sức. Nước Đại Việt nhỏ bé, sức người sức của có hạn, người đứng đầu cuộc chiến lúc đó mới chưa đầy ba mươi tuổi, tính thật chính xác là 27 tuổi, sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước thái bình. </span></p>
<p><span style="color:#003366;">Tất nhiên Nhân Tông có được một đội ngũ tướng tá tài đức là các chú các bác, các anh em và những gia thần thân thiết, đặc biệt là nhân dân Đại Việt với tấm lòng “vì nghĩa quên thân”, trong đó Trần Hưng Đạo là một vị tướng lão luyện đã từng giáp mặt với giặc Thát một lần. Hơn nữa, ông còn có ngươi cha là thượng hoàng Trần Thánh Tông làm chỗ dựa tinh thần, có vai trò như một vị “chính ủy”, quyết định những chủ trương nhằm giữ gìn khối đoàn kết dân tộc và huy động sức mạnh toàn dân, như mở Hội nghị Diên Hồng, tha tội thua trận cho Trần Khánh Dư sau khi vị tướng này đã lập công chuộc tội, không xử tội nghiệt ngã những người hàng giặc và đốt hết những chứng cứ thể hiện sự hèn nhát trước hiểm nguy của họ, quyết định khen thưởng&#8230; Nhưng Nhân Tông mới là người gánh vác trọng trách chính trong  cuộc chiến. </span></p>
<p><span style="color:#003366;">Hội nghị tướng lĩnh và trăm quan ở Bình Than (tháng 10 năm 1282) là một cuộc họp mang tầm chiến lược &#8211; “bàn kế sách công  thủ và chia quân đóng giữ những nơi hiểm yếu”<a title="" href="#_ftn2"><span style="color:#003366;">(2)</span></a>và cắt cử tướng lĩnh. Cuộc họp có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, chứng tỏ tầm nhìn, quyết tâm và mưu lược của Nhân Tông trong việc chống giặc giữ nước. Những cuộc tập trận sau đó, sự diễn biến của cuộc chiến sau này xảy ra đã chứng minh đường hướng đúng đắn của Hội nghị Bình Than, đặc biệt là tinh thần nhất tâm của “anh em, vua tôi” trong vương triều Tràn, do đó đã đạt được một kết quả mỹ mãn của công cuộc giữ nước, đó là một kỳ tích mà không phải bất cứ triều đại nào, thời kỳ lịch sử nào cũng đạt được. </span></p>
<p><span style="color:#003366;">Trong cuộc chiến, những nơi đầu sóng ngọn gió, cần giải quyết những công việc hệ trọng đều thấy Nhân Tông xông pha, có mặt để có những quyết sách kịp thời. Ông đồng cam cộng khổ cùng tướng lĩnh, vào sinh ra tử cùng tướng lĩnh, có khi phải nhịn đói cả một ngày trời, chiều tối mới được bát cơm hẩm do người lính nhường cho &#8230; Là người chịu trách nhiệm chính trước non sông xã tắc và gia tộc trước thời điểm đất nước hiểm nghèo, Nhân Tông thực sự tỏ ra <strong><em>một tính cách mạnh</em></strong>. Khi cuộc chiến còn vô vàn khó khăn, ông vẫn vững tin ở dân tộc mình:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                    <strong>Cối  Kê cựu sự quân tu ký</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                    Hoan Diễn do tồn thập vạn binh</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                    (<em>Cối Kê việc cũ ngươi nên nh</em>ớ</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                    <em>Hoan Diễn còn kia mười vạn quâ</em>n)</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>            </em>Sau mọi khó khăn, chiến thắng giành được Nhân Tông khẳng định niềm tin ở vận mệnh đất nước:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                    <strong>Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                    Sơn hà thiên cổ điện kim âu.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                    <em>( Xã tắc hai phen chồn ngựa đá</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                        <em>            Non sông nghìn thuở vững âu vàn</em>g)</span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Nhưng câu thơ “mừng thắng trận” không chỉ có niềm vui, tự hào bề nổi mà thể hiện cả tầm suy nghĩ chín chắn sâu xa, một cái nhìn minh triết xuyên suốt quá khứ – hiện tại – và tương lai.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Cũng vì trọng trách quốc gia mà cha giao cho đó nên sau chiến thắng, thượng hoàng Trần Thánh Tông có thể trở về Thiên Trường với tâm trạng thư thái của một người đã hoàn thành trách nhiệm, để viết nên những vần thơ rất thảnh thơi <em>Nguyệt vô sự chiếu nhân vô sự; Kim niên du thắng tích niên du,</em> còn Nhân Tông thì không thể, công việc hậu chiến rất nhiều. Trước cảnh tan hoang “Sinh linh bị giết chóc, lăng mộ bị bới đào, chùa chiền bị thiêu hủy, cây cối bị chặt đẵn &#8230;”, ông phải nhanh chóng trùng hưng đất nước trên tất cả mọi lĩnh vực và không thôi cảnh giác: “Các ngươi biết chắc rằng quân giặc không đến nữa thì tuy có ban thăng đến bậc cao nhất trẫm cũng không tiếc; vạn nhất chúng lại đến nữa mà các ngươi lại có công thì biết thưởng gì để khích lệ mọi người”. ..</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Trương Hán Siêu trong bài <em>Bạch Đằng giang phú </em>đã tôn vinh ba người trong cuộc chiến này: Trần Quốc Tuấn định liệu trước được thế giặc “<em>Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng là bởi Đại vương xem thế giặc nhàn”</em>; còn hai vua (Trần Nhân Tông và thượng hoàng Thánh Tông) là hai vị “vua Thánh đức cao”:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                    <em>Anh minh, hai vịThánh quân,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                        Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                    Giặc tan muôn thưở thanh bình,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                        Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Đo là một sự tôn vinh đúng đắn, Ngô Thì Sĩ bàn rằng “nghiền ngẫm kỹ lời và ý câu văn mô tả được trận thua của Hán và Nguyên rất thiết thực”. “Giang sơn nước Nam, sách trời định rõ, người Bắc tuy có cậy trí lực chực chiếm giữ, nhưng dù có lấy được cũng không thể nào giữ được&#8230;”<a title="" href="#_ftn3"><span style="color:#003366;">(3)</span></a></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Trên cương một nguyên thủ quốc gia trong nhiệm vụ bảo vệ đất nước, Trần Nhân Tông là một vị vua tài chí và anh hùng.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"> </span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong><em>2. Vị tổ sáng lập Thiền phái Việt Nam.</em></strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Sử sách cũng đã ghi rõ, trong cuộc đấu tranh bảo về đất nước, Trần Nhân Tông không chỉ trực tiếp chỉ đạo chiến trận mà còn phải chủ trì nhiều cuộc tiếp sứ, thực chất là những cuộc đấu tranh ngoại giao vô cùng căng thẳng. Nhà Nguyên và “thiên triều” nói chung rất mong muốn biến Đại Việt thành một quận huyện của Hoa hạ. Ăn mặc, nói năng, suy nghĩ, phong tục thờ cúng &#8230; tất thảy họ đều muốn An Nam theo Hoa hạ. </span></p>
<p><span style="color:#003366;">Cho nên giữ được cương giới của tổ tông đã đành, cũng còn phải giữ được bản sắc dân tộc mình, giữ được những gì mà năm tháng có thể đã bị mất mát thay đổi đến không còn nhận ra nữa. Nhà Trần rất có ý thức về phương diện này. Trần Nghệ Tông từng mắng “bọn học trò mặt trắng”: “Triều trước dựng nước có luật pháp, chế độ riêng, không theo quy chế của nhà Tống, là vì Nam Bắc nước nào làm chủ nước đó, không phải bắt chước nhau. </span></p>
<p><span style="color:#003366;">Khoảng năm Đại Trị (thời Trần Dụ Tông), bọn học trò mặt trắng được dùng, không hiểu ý nghĩa sâu xa của việc lập pháp, đem phép cũ của tổ tông thay đổi theo tục phương Bắc cả, như về y phục, âm nhạc &#8230; thật không kể xiết”. Như vậy là Trần Nghệ Tông còn biết rất rõ các “triều trước” của nhà Trần vẫn giữ được phép tắc riêng của dân tộc, từ âm nhạc, y phục &#8230; Ở Trần Nhân Tông điều ấy rất rõ. Trong khi tiếp sứ thiên triều, ông thường theo tục lệ nước Nam, Đặc biệt là cuộc tiếp sứ thần Thượng thư bộ Lễ Trương Hiển Khanh năm 1292. Nhân Tông tiếp Trương Hiển Khanh ở điện Tập Hiền, mời ăn hải sản, cau trầu, chuyện trò vui vẻ, làm thơ tặng, trong đó có một bài thơ về tục ăn tết mồng ba tháng Ba:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                    <strong>Giá chi vũ bãi thí xuân sam,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                    Huống trị kim triêu tam nguyệt tam.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                    Hồng ngọc đôi bàn xuân thái bính,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                    Tòng lai phong tục cựu An Nam.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                    (<em>Múa giá chi rồi, thử áo xuân</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                    Hôm nay Hàn thực, buổi thanh thần</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                    Bánh rau tinh khiết đầy mâm ngọc</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                    Phong tục An Nam theo cổ nhân.)</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                <strong>Biếu Trương Hiển Khanh bánh xuâ</strong></em><strong>n</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                                                    (Trần Lê Văn dịch)</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Bài thơ giọng điệu trang nhã, vừa rất ân cần với khách vừa ý tứ sâu xa. Chắc chắn Trần Nhân Tông biết câu chuyện Tấn Văn Công vô tâm bỏ quên người bề tôi trung thành đã cắt thịt mình cứu ông khỏi chết đói trong cơn hoạn nạn để tiết hàn thực đầu xuân ở Trung Quốc trở thành một ngày tết buồn, nhưng nhà vua nhấn mạnh tết “mồng ba tháng ba” đối với Đại Việt là tuần tiết vui, một lễ hội của phong tục cổ, có múa hát, có mặc áo mới và ăn một thứ bánh có rau, tinh khiết như “hồng ngọc”. </span></p>
<p><span style="color:#003366;">Hơn thế, Trần Nhân Tông trong một hoàn cảnh tương tự đã không quên người lính dâng vua một bát cơm hẩm, nhà vua ban tước cho anh ta và sau này khi đất nước đã thanh bình, mỗi lần đi đâu gặp gia nhân của các vương hầu đều gọi lại thăm hỏi và còn răn bảo các vệ sĩ không được đánh mắng họ<a title="" href="#_ftn4"><span style="color:#003366;">(4)</span></a>. Thực ra theo sách <strong><em>Kinh Sở tuế thời ký</em></strong> thì tiết đông 105 ngày, sau đó có mưa to gió lớn, gọi là tiết Hàn thực, người ta cấm lửa trong 3 ngày. Lời chú của sách này nói: Theo lịch thì tiết ấy vào khoảng trước thanh minh 2 ngày, cách ngày đông chí 106 ngày. Một sách biệt lục của Lưu Hướng cũng nói tiết Hàn thực có từ đời Chu; gắn với truyện Giới Tử Thôi là từ thời Hậu Hán. </span></p>
<p><span style="color:#003366;">Như vậy có thể nói ngày 3 tháng 3 là một lễ hội của cư dân nông nghiệp phía nam, từ vùng Kinh Sở trở xuống. Vì thế Nhân Tông mới nhấn mạnh đây là “phong tục cổ của An Nam.” Bài thơ hai mươi tám chữ tặng Trương Hiển Khanh của Trần Nhân Tông quả là có một chiều sâu tư tưởng, một vẻ đẹp nhân văn rất đáng để hậu thế chiêm ngưỡng. Thực ra lần đi sứ này của Trương Hiển khanh cốt để chuẩn bị cho cuộc tiến công lần thứ tư của nhà Nguyên, là một cuộc đấu trí, đấu lý rất nhiều gai góc. </span></p>
<p><span style="color:#003366;">Thế nhưng Trần Nhân Tông đã hóa giải được, khiến cuộc tiếp sứ căng thẳng dần dần trở nên thân mật: “Vua An Nam tiếp chuyện vui vẻ luôn luôn làm thơ tặng thiên sứ. Lập đạo tức thì làm thơ đáp lại. Tiệc gần xong, mời Lập Đạo vào trong trướng, đều ngồi trên đất”<a title="" href="#_ftn5"><span style="color:#003366;">(5)</span></a> Lập Đạo (tên chính của Hiển Khanh) cuối cùng  cũng phải có một cách nhìn khác về An Nam, những điều gai góc cần phải tuyên dụ đành viết thành thư gửi sau và bài thơ khi rời Đại Việt đã biểu thị tâm trạng chấp nhận một thực tế mới mà chính ông đã quan sát được: An Nam là nước nhỏ, nhưng có văn chương, không thể nói bừa họ là ếch ngồi đáy giếng.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                         <strong>Dao vọng thương yên toả mộ hà,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Thị triều nhân viễn cách yên hoa.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Cô hư đình viện vô đa sở,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Thịnh mậu viên lâm chỉ nhất gia.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Nam chú hùng tân Thiên Hán thuỷ,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Đông khai cao thụ mộc miên hoa.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                An Nam tuy tiểu văn chương tại,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Vị khả khinh đàm tỉnh để oa.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Bản dịch <strong><em>An Nam chí lược</em></strong>:</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Ngắm cảnh chiều hôm khói mịt mờ,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Xa nơi thành thị đỡ huyên hoa.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Quạnh hiu đình viện không nhiều sở,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Tươi tốt vườn cây chỉ một nhà.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Thiên Hán bến Nam tuôn mạch nước,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Mộc miên cây lớn trổ cành hoa.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                An Nam tuy nhỏ văn chương thịnh,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                “Ếch giếng”, khuyên đừng chế giễu ngoa.<a title="" href="#_ftn6"><span style="color:#003366;">(6)</span></a></em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Trên tinh thần giữ gìn bản lĩnh dân tộc, coi trọng cuộc sống tinh thần của nhân dân, Nhân Tông cũng rất chú trọng xây dựng nền văn hóa dân tộc. Sử sách ghi rằng ông rất ham thích đạo Phật, nhưng vì sự kỳ vọng của cha, ông đã gánh vác việc nước. Sau khi truyền ngôi cho thái tử Thuyên, ông mới được rảnh rang theo đuổi niềm ham thích của mình – “xuất gia”.  </span></p>
<p><span style="color:#003366;">Tuy nhiên, có thể còn một lý do khác khiến ông đến với đạo Phật: mối quan hệ giữa những con người. Dẫu sao đạo Phật cũng đề cập đến một tình thương rộng lớn, sự không phân biệt đẳng cấp xã hội trong hàng Phật tử. Nhân Tông là ông vua có tư tưởng thân dân vào bậc nhất đời Trần. Ông đã từng nhắc đến công lao của những người gia đồng, phạt trượng viên quan châu Diễn là Phí Mạnh về tội tham ô, xuống chiếu cho phép những người bán con làm nô tỳ được chuộc lại, trong thơ ông có bóng dáng trẻ chăn trâu, thôn làng&#8230; Cho nên, có thể cả hai quan niệm vũ trụ và nhân sinh của Phật giáo đã hấp dẫn ông, khiến ông suy nghĩ thêm về những kế sách &#8220;chăn dân trị nước&#8221; và muốn xây dựng một môn phái Thiền học bề thế, đàng hoàng của riêng Việt Nam, đời Trần. </span></p>
<p><span style="color:#003366;">Khác với các vua nhà Lý và cả cách của Trần Thái Tông, ở lĩnh vực này Nhân Tông rất có chủ kiến. Ông chấp nhận đạo Phật, nhưng đã tách đạo Phật ra khỏi đời sống chính trị và trả lại cho nó nhiệm vụ chính yếu của một tôn giáo: chăm sóc đời sống tâm linh của con người. Đến Nhân Tông dòng thiền Việt Nam đã thống nhất thành một mối từ tổ chức đến giáo lý, cách thức đào tạo, truyền nối và có cả một quê hương riêng cho mình. Chính Nhân Tông đã chọn Yên Tử làm mảnh đất quê hương cho dòng Thiền Trúc Lâm, mặc dù thời đó xung quanh kinh đô không ít ngôi chùa có quy mô lớn, đủ điều kiện để trở thành trung tâm một môn phái như Phật Tích, Phổ Minh, &#8230;</span></p>
<p><span style="color:#003366;"> Nhân Tông chủ trương “cư trần lạc đạo”, “nhập thế”, nhưng vì sao ông đến với Yên Tử và có ý định đưa trung tâm Phật giáo xa Kinh đô, đó cũng là một câu hỏi. Tăng Hải Hoà, tức Nguyễn Đăng Sở (1753 &#8211; ? ) đã cho rằng thực chất Nhân Tông lên Yên Tử để tìm một vọng gác tiền tiêu bao quát vùng Đông Bắc, còn Ngô Sĩ Liên thì cho rằng “tuy nói là siêu thoát nhưng không phải là đạo trung dung của thánh nhân”.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Chắc chắn rằng ý thức cảnh giác và mọi việc phòng thủ đất nước đối với dân tộc Việt không có gì xa lạ, Thượng hoàng đâu cần phải giấu giếm con dân. Nhưng chọn Yên Tử quả là Thượng hoàng đã tìm được một dịa thế rất thích hợp làm quê hương cho một tôn giáo riêng của Việt Nam.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>      </strong>Tuy nhiên vấn đề cốt lõi là lý giải xem tại sao Nhân Tông tìm đến đạo Phật, lại còn chủ trương lập ra một tông phái Trúc Lâm riêng của Việt Nam, trong khi Đạo Phật ở Việt Nam lúc đó đã được nhiều người xem là “quốc giáo”; đời Lý đã có đến ba phái Thiền, đời Trần, Thái Tông và Tuệ Trung Thượng sĩ cũng đã xây dựng được những giáo trình khá quy mô, sâu sắc? Như vậy, ý tưởng và đóng góp riêng của Trần Nhân Tông là gì? Điều khó khăn là ngày nay những tác phẩm như <em>Thiền lâm thiết chủy ngữ lục, Thạch thất mị ngữ, Tăng già toái sự, Đại Hương Hải Ấn thi tập</em> của ông đều đã thất lạc. Và do vậy trong những trước tác còn lại, muốn trực tiếp tìm hiểu tư tưởng Thiền của ông trên phương diện hiển ngôn chỉ có thể tìm được ở một số đoạn thuyết giảng trong <em>Thánh đăng ngữ lục,</em> hai tác phẩm viết bằng tiếng Việt <em>Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, </em>và qua những bài thơ trữ tình hiện còn (không rõ có bao nhiêu bài thuộc tập thơ <em>Hải Ấn</em>?)<em>. </em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">      Trước hết có thể nghĩ rằng, Trần Nhân Tông đến với giáo lý nhà Phật để tìm sự “giác ngộ”, cũng là tìm lời giải đáp cho những câu hỏi lớn: Bản chất thế giới là gì? Có thật hay hư ảo? Con người là ai? Từ đâu đến và cuối cùng đi đâu? (Cho đến tận ngày nay, đây vẫn là những câu hỏi khó). <em> </em> </span></p>
<p><span style="color:#003366;">      Những câu hỏi ấy loài người đặt ra từ rất sớm, và cũng từ rất sớm con người cố gắng tìm câu trả lời. Thích Ca Mâu Ni cũng đã đưa ra một đáp án: thế giới, con người chỉ là sự kết hợp của năm yếu tố – “ngũ uẩn” – bao gồm cả tâm và vật: sắc, thụ, tưởng, hành, thức. Thế nhưng những câu hỏi đó vẫn trở đi trở lại. Đến khoảng thế kỷ XI, XII, XIII, dường như ở phương Đông vấn đề đó lại được đặt ra sôi nổi. Ở Trung Quốc người ta không chịu bằng lòng với thuyết “thiên nhân tương ứng” – trời với người có sự cảm ứng trực tiếp bí ẩn sơ giản của Nho giáo nữa. Các nhà Tống Nho đã rút phần bản thể luận của Phật giáo, những yếu tố biện chứng của Lão giáo để bổ sung và nâng cao tầm triết học cho Nho giáo. </span></p>
<p><span style="color:#003366;">Còn ở Việt Nam, giai đoạn này cũng là thời kỳ thịnh đạt nhất của Phật giáo. Dưới thời Lý có nhiều buổi họp mặt các Thiền gia và cả các vương hầu để đàm đạo về con người, vạn vật. Nhân Tông cũng đã trăn trở về những điều đó từ rất sớm (có phải như thế chăng?), đến nỗi “mặt võ mình gày”, khiến cha (Trần Thánh Tông) phải lo lắng. Nhưng rồi cũng như ông nội (Thái Tông), Nhân Tông đã bứt ra được để gánh lấy trách nhiệm “nhân chủ” trong suốt thời trai trẻ với biết bao gian nan và hào hùng. Và cũng trong những năm tháng ấy, dù “chưa tường lẽ sắc không, mỗi mùa xuân vẫn xốn xang trong lòng” (<em>Xuân vãn), </em>nhưng Nhân Tông có lẽ cũng không “khuây lãng” đạo Thiền, bởi còn một điều Người rất quan tâm nữa, đó là<strong><em> mối quan hệ giữa con người với nhau</em></strong>. Đạo Phật đề cập đến một tình thương rộng lớn, sự không phân biệt đẳng cấp xã hội trong hàng Phật tử – mọi người đều có Phật tính, đều có thể tự tìm học mà giác ngộ. </span></p>
<p><span style="color:#003366;">Nhân Tông là vị vua có tư tưởng “thân dân” vào bậc nhất đời Trần, cho nên, có thể cả hai mặt quan điểm vũ trụ và nhân sinh của đạo Phật đã hấp dẫn Người khiến Người suy nghĩ thêm về những kế sách “chăn dân trị nước”, và muốn xây dựng một môn phái Thiền học bề thế, đàng hoàng của riêng Việt Nam, đời Trần, để làm chỗ dựa tinh thần, làm nền tảng cho văn hóa Việt. Khác với các vua nhà Lý, Nhân Tông đã tách đạo Phật ra khỏi đời sống chính trị và trả lại cho nó nhiệm vụ chính yếu của một tôn giáo: <strong><em>chăm sóc đời sống tâm linh của con người</em></strong>. Đời Trần, các Thiền sư không tham chính, nhưng nhiều chính khách và hầu hết các vua nhà Trần lại tham Thiền. Trần Thái Tông đã viết <em>Thiền tông chỉ nam ca </em>trong những lúc “có được chút rảnh rỗi giữa trăm công nghìn việc” (<em>Bài tựa Thiền tông chỉ nam ca</em>) và đặc biệt quan tâm đến ý nguyện của người dân và số phận nhọc nhằn của mỗi con người. Tuệ Trung Thượng sĩ thì chủ động, tự khẳng định một con đường tu tập giác ngộ riêng: “hòa quang đồng trần”, “Phật là Phật, anh là anh. Anh chẳng cần làm Phật, Phật cũng chẳng cần làm anh!”. Nhân Tông thừa hưởng những cốt lõi tinh hoa tư tưởng đó, Người tự nhận “đắc chỉ” từ Tuệ Trung Thượng sĩ, nhưng Nhân Tông lại không phóng khoáng đến như thày, cũng không nghiêm trang đau khổ như ông nội. Trần Nhân Tông khẳng định “con đường vui”, tùy duyên; ở thành thị thì “cư trần lạc đạo”, ở núi sâu thì “đắc thú lâm tuyền”.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">      Tìm lại trong tác phẩm của Trần Nhân Tông thấy Phật hoàng từng có giảng về giáo lý. Người cũng tổ chức hoằng dương tông phái, tìm người nối truyền. Người đã chọn được Pháp Loa làm người kế nghiệp, giao cho việc xiển dương tông phái và chọn Huyền Quang để lo việc kinh sách và rồi sẽ nối tiếp Pháp Loa truyền ngọn đèn Tổ. <em>Thánh đăng ngữ lục</em> ghi nhiều buổi Phật hoàng Trần Nhân Tông hướng dẫn Pháp Loa giảng <em>Kinh Pháp hoa</em>, chủ tọa những buổi thảo luận về kinh về thiền, về Đại nội làm lễ trao tâm giới Bồ Tát tại gia cho vương công và bách quan. Phật hoàng Nhân Tông cũng đích thân giảng một số buổi, đặc biệt buổi giảng tại chùa Sùng Nghiêm núi Chí Linh, là một buổi giảng rất điển hình, nhiều vấn đề quan trọng được nêu lên rất đáng chú ý. <em>Thánh đăng ngữ lục</em> ghi lại trọn vẹn bốn cuộc vấn đáp hôm đó. </span></p>
<p><span style="color:#003366;">Cuộc thứ nhất, một nhà sư hỏi về <em>Phật, Pháp, Tăng, con đường hướng thượng, giáo ngoại biệt truyền</em>. Vị sư thứ hai hỏi về <em>công tu tập, “tính thấy” của Như Lai, gia phong của Phật tam thế, gia phong của hòa thượng và bản thể thanh tịnh</em>. Vị tăng thứ ba hỏi về “<em>đàm huyền thuyết diệu” và “bản lai diện mục”</em>. Vị tăng thứ tư hỏi về <em>tướng tốt của Phật, Phật pháp, Phật tính</em>, cuối cùng là khái niệm <em>có và không</em>. Trong tất cả lời đáp cho mấy vấn đề nêu trên đều không thấy ghi các câu giải đáp, định nghĩa cụ thể. Phật hoàng Nhân Tông áp dụng cách giảng thuyết đối thoại Thiền, làm thế nào để kích thích, thúc đẩy tư duy của những người tu học, khiến họ đạt đến độ bừng sáng trí tuệ và tự tìm được câu trả lời. Trong cách thức và cả quá trình thuyết giảng, truyền dạy ấy, Phật hoàng đặc biệt chú ý nhấn mạnh việc<em> </em>không theo đường mòn, không đồ theo nét vẽ của người trước, phải tự mình tư duy, lý giải để <strong><em>tìm cái mới</em></strong>, “liễu ngộ”. (Bởi nhận thức là vấn đề của mỗi cá nhân và có cả một qúa trình.) Trong buổi giảng, có đến 4 lần Người nhắc điều đó:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">      Hỏi: &#8211; Thế nào là Phật?</span></p>
<p><span style="color:#003366;">      Đáp:    &#8211; “<em>Chấp nhận như xưa là không đúng</em>”; </span></p>
<p><span style="color:#003366;">      Hỏi: Thế nào là Pháp:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">      Lại đáp: &#8211; “<em>Chấp nhận như xưa là không đúng</em>”;</span></p>
<p><span style="color:#003366;">      Hỏi:     &#8211; Dùng công án cũ mà làm gì?</span></p>
<p><span style="color:#003366;">      Thì đáp: &#8211; “<em>Mỗi lần nêu ra là một lần mới</em>”;</span></p>
<p><span style="color:#003366;">      Đến câu hỏi về “chân dung đích thực”: &#8211; Bản lai diện mục là gì?</span></p>
<p><span style="color:#003366;">      Thì chỉ hỏi lại: &#8211; “<em>Hiểu không</em>?”</span></p>
<p><span style="color:#003366;">      Người đặt câu hỏi bị dồn vào chỗ bí, hoang mang, mất hết cả “<em>sự hoạt bát tinh ranh như con chồn hoang</em>” khi trước, đến nỗi gần như “vô thức” lặp lại “lời hét” của thày, rồi không còn cách gì chỉ đành “<em>vái lạy</em>” hoặc thú nhận “<em>Không hiểu</em>” và ra về dường như “tay không”. Nhưng chính trong trạng thái đó, người học lại được kích thích, thúc giục tính tự giác để trăn trở tư duy, bức bách đến “bùng nổ giác ngộ” “chợt hiểu”. Nhiều người học Thiền đã liễu ngộ được trong cách dạy và học này. Không rõ có bao nhiêu học trò Nhân Tông Điều Ngự được “đắc pháp”, nhưng Pháp Loa là một trong số đó<a title="" href="#_ftn7"><span style="color:#003366;">(7)</span></a>. Và như để bổ trợ cho việc tìm ra cái mới, Điều Ngự đã gợi ý bằng những câu thơ rất giàu hình ảnh, giàu chất thơ. Ví như hỏi “vì sao cái bản thể thanh tịnh bỗng dưng lại sinh ra sơn hà đại địa”, thì được trả lời: “<em>Tựa như thuyền chài ra bể</em>”; lại hỏi ý nghĩa của hình tượng đó, thì được trả lời: “<em>Ai biết được nơi khói sóng xa xôi lại có việc đáng bàn luận</em>”. Hỏi về gia phong của Phật Quá Khứ thì đáp:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                              <em>Vườn rừng vắng vẻ không người chăm sóc,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                              Mận trắng đào hồng vẫn  tự nở hoa.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">      Hỏi về gia phong của Phật Hiện Tại thì:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                              <em>Nước bạc mênh mông chim én lạc,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                              Vườn tiên đào thắm gió xuân say.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">      Còn gia phong của Phật Vị Lai thì:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                              <em>Bãi biển đợi triều trăng sắp mọc,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                              Thôn chài nghe sáo khách tư gia. ..</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">     Riêng về quan niệm “có, không” là được Điều Ngự giảng kỹ, nhằm giúp cho người học thông suốt được “bất nhị pháp môn”, không mắc kẹt vào ngôn ngữ, khái niệm, dù có đọc bao nhiêu kinh sách đi nữa. (Đó là một quan niệm minh triết, bởi khái niệm, quả thực không dung chứa được toàn vẹn thực thể, bao giờ trong cách hiểu cũng có dấu ấn của nhận thức, phong khí thời đại). Điều Ngự có đến 9 đoạn giảng về “<em>câu có câu không</em>”. Hai khái niệm đó, nếu bám víu vào câu chữ thì rất bối rối, không có cách gì gỡ ra để đến với “diện mạo chân thật” (<em>bản lai diện mục</em>) của nó, cho nên chung quy lại là “<em>Cắt đứt sắn bìm / Đó đây vui vẻ</em>”.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">      “<em>Cắt đứt sắn bìm</em>”, đó chính là ý chỉ, là phương pháp luận mà Điều Ngự muốn truyền thụ cho mọi người trên con đường tu tập để đạt tới sự giác ngộ. Và Điều Ngự kết thúc buổi giảng ở vấn đề đó.  </span></p>
<p><span style="color:#003366;">      Nhưng có lẽ vấn đề Nhân Tông Điều Ngự quan tâm nhất vẫn là đem đến cho người tu hành, người dân Đại Việt thời ấy, một quan niệm “sống giữa cuộc đời thường mà vui đạo” (<em>Cư trần lạc đạo</em>) và một thái độ rất phóng khoáng: “tùy duyên”. Có lẽ ở điểm này Trần Nhân Tông vừa có điểm kế thừa vừa khác ông nội của mình. Trong hoàn cảnh của Đại Việt, luôn luôn phải đối phó, đương đầu với nước láng giềng mạnh, tham tâm, tất cả các vua Trần, hoàng tộc nhà Trần đều đã coi “thiên hạ là công”, biết đặt lợi ích, sự sống còn của non sông xã tắc, của dân chúng lên trước hết. Cho nên khi đã ở ngôi nhân chủ thì đều “<em>lấy ý muốn của dân làm ý muốn của mình</em>”. Dân mong muốn sau khi đuổi xong giặc ngoại xâm, đất nước phải được thái bình, an lạc -  điều đó có nghĩa là đời sống được ấm no, thôn xóm bình yên, cha mẹ con cái, xóm giềng, trên dưới hòa thuận, sống trong tình nhân ái. Giáo sư Đặng Thai Mai cho rằng “<em>Con người thời đại này là con người biết sống một đời sống tích cực, vui vẻ, một đời sống cởi mở và phong phú rộng rãi, sâu sắc</em>”. (<em>Mấy điều tâm đắc về một thời đại văn học</em>)<a title="" href="#_ftn8"><span style="color:#003366;">(7)</span></a>. Có lẽ chính trong điều kiện đất nước, nhân dân như vậy, Trần Nhân Tông đã không nhấn mạnh phương pháp tu hành khổ hạnh, cầu nguyện, sám hối. Đạo Phật đem đến cho người ta những cơ sở “lý thuyết” để góp phần tạo nên cuộc sống an lạc, hỷ xả. Phật hoàng Nhân Tông khai thác phương diện đó, chú trọng xây dựng Thiền phái Trúc Lâm với tông chỉ “vui đạo giữa đời thường”, tùy theo nhân duyên gặp gỡ của mỗi người và nhấn mạnh sự giác ngộ về nhận thức, về phương pháp tư duy. Nếu để ý một chút thì có thể thấy trong các Hội giảng cho hoàng tộc, các quan chức trong triều, các nhà sư đã tu hành nhiều năm tháng, nghĩa là những người am hiểu chữ nghĩa, hay nói như Lê Mạnh Thát “những người trong cuộc”,<a title="" href="#_ftn9"><span style="color:#003366;">(9)</span></a> Phật hoàng Nhân Tông đã dùng những câu, bài kệ bằng chữ Hán, giảng giải các vấn đề cao sâu hơn. Cả những bài thơ viết cho riêng mình được gợi mở từ cảm hứng Thiền cũng gửi gắm nhiều suy tư thâm trầm, có khi đem đến cảm giác cô đơn, diệu vợi. Nhưng trong hai tác phẩm viết trực tiếp bằng tiếng Việt, Điều Ngự chỉ đề cập đến những vấn đề cơ bản nhất, nhưng với cách nói rất giản dị và chú ý khích lệ niềm vui tu đạo. Đó là mỗi người đều tự có “tính sáng” thanh tịnh &#8211; tính Phật; người ta chỉ cần nhận biết và giữ gìn “tính sáng” ấy của mình ắt là đạt đạo “thành Phật”. Ở bài thứ nhất, <em>Cư trần lạc đạo</em>, nói với những người bình thường, những người đang sống cuộc đời trần tục mà muốn học đạo, Nhân Tông Điều Ngự năm lần nhắc đến sự “bình đẳng” về bản chất giữa chúng sinh, đó là “tính sáng” – “<em>yêu tính sáng”, “gìn tính sáng”</em> (2 lần)<em>, “Di Đà là tính sáng”, “tính sáng chẳng tham”</em> và chia làm 10 Hội (tiết) để hướng dẫn những bước tu tập. Yêu cầu quan trọng nhất đối với việc tu tập là biết “niềm dừng”, “nén niềm vọng” để đạt tới “vô tâm”. Và như thế sẽ “<em>rồi</em> (tiêu tan hết, không còn) <em>mọi hoặc</em> (mọi lầm lẫn, mê hoặc)”, không còn tham sân si, không còn phân biệt “bỉ ngã”, sẽ “<em>được an nhàn thể tính</em>”, “<em>tự tại thân tâm</em>”. Tất nhiên để đạt tới sự giác ngộ, người tu đạo không thể lười nhác mà phải đọc<em> Dịch</em>, đọc<em> Kinh </em>đọc <em>lục, noi gương các bậc tiền bối, </em>nhưng với tinh thần ham thích, tự giác chủ động và “tùy duyên” theo điều kiện hoàn cảnh của mình, không phải nhọc công “<em>tìm Phật tổ Đông Tây</em>”, “<em>cầu Thiền Nam Bắc</em>”, cũng không cần phải đến non xa núi thẳm “<em>am sạn Non Đông</em>” tìm thày học đạo, luyện thuốc trường sinh &#8230; để mong “thành Phật”, thành tiên, sống lâu. Bởi “<em>Chỉn Bụt là lòng</em>”, “<em>Bụt ở cong</em> (từ cổ, tức là trong)<em> nhà; Chẳng phải tìm xa. Nhân khuây bổn nên ta tìm Bụt; Đến cốc hay</em> (cốc, hay tức là biết)<em> chỉn Bụt là ta</em>”. Nhân Tông Điều Ngự cũng không bàn đến chuyện sống chết, không khuyên nhủ, bày cách cho người tu đạo đối mặt với bốn quả núi “sinh lão bệnh tử” cheo leo nhiều đau khổ như thế nào, có lẽ với Điều Ngự, khi con người đã vui vẻ nhận thức được “Bụt là ta” thì mọi tướng, mọi duyên không còn là vấn đề quan trọng nữa&#8230;</span></p>
<p><span style="color:#003366;">      Kết thúc bài phú, Nhân Tông tóm tắt ý chính yếu thảnh một bài kệ:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                          <strong>居</strong><strong> </strong><strong>塵</strong><strong> </strong><strong>樂</strong><strong> </strong><strong>道</strong><strong> </strong><strong>且</strong><strong> </strong><strong>隨</strong><strong> </strong><strong>緣</strong><strong> </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                          </strong><strong>饑</strong><strong> </strong><strong>則</strong><strong> </strong><strong>餐</strong><strong> </strong><strong>兮</strong><strong> </strong><strong>困</strong><strong> </strong><strong>則</strong><strong> </strong><strong>眠</strong><strong> </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                          </strong><strong>家</strong><strong> </strong><strong>中</strong><strong> </strong><strong>有</strong><strong> </strong><strong>寶</strong><strong> </strong><strong>無</strong><strong> </strong><strong>尋</strong><strong> </strong><strong>覓</strong><strong> </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                          </strong><strong>對</strong><strong> </strong><strong>景</strong><strong> </strong><strong>無</strong><strong> </strong><strong>心</strong><strong> </strong><strong>莫</strong><strong> </strong><strong>問</strong><strong> </strong><strong>禪</strong><strong>  </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                              <em>Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                              Cơ tắc xan hề, khốn tắc miên.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                              Gia trung hữu bảo vô tầm mịch,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                              Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                              (Ở đời vui đạo, hãy tùy duyên,</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                              Đói cứ ăn ngay, mệt ngủ liền.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                              Của báu trong nhà, đừng nhọc kiếm,</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                              Vô tâm trước cảnh, hỏi chi thiền<em>)</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">      Trong bài kệ, Điều Ngự tổng kết thành bốn ý quan trọng trong hành trình tu đạo: <em>vui đạo, tùy duyên, đói ăn mệt ngủ</em> (thuận theo quy luật tự nhiên, nhu cầu sinh học tự nhiên)<em>, trong mỗi người sẵn có vật quý (tính sáng) không cần</em> (vất vả)<em> tìm kiếm</em> (ở ngoài)<em>, kinh sách tu tập chỉ là phương tiện giúp người ta đạt đến sự giác ngộ &#8211; “vô tâm”</em>.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">      Nhân Tông có niềm tin sâu sắc vào những con người bình thường., với cương vị người sáng lập, lãnh đạo tông phái, Điều Ngự tin mọi con người bình thường vẫn có thể “vui đạo”, trong khi không xao lãng trách nhiệm con dân: “<em>Sạch giới lòng, chùi giới tướng, nội ngoại nên Bồ Tát trang nghiêm; Ngay thờ chúa, thảo thờ cha, đi đỗ mới trượng phu trung hiếu.” </em>Đạo Phật, đặc biệt là Thiền, vốn cũng có một đặc sắc là mang tính lạc quan, không nghiệt ngã, ưu tư đau khổ, không thuyết phục người ta đọa đầy thân xác, hy sinh thân thích để mong chờ hạnh phúc ở một thế giới khác, nhưng Nhân Tông Điều Ngự nâng cao lên một mức “sống trong cõi đời trần tục mà vui đạo”, thì điều đó có thể xem là một <em>nét nhấn</em> của riêng Người. Cũng bởi vậy, hai tác phẩm phổ cập cho người dân Đại Việt về đạo của vị Tổ thứ nhất Thiền phái Trúc Lâm – Điều Ngự – đều là những áng văn chương nói lên, chia sẻ niềm “lạc, thú”. Riêng tác phẩm thứ hai là một khúc ca, vang tiếng cười về “cái được” – được thú nơi suối rừng: “<em>Đắc ý cong lòng, Cười riêng ha hả”.</em> Tiếng cười thật là sảng khoái, dung dị, dân dã, rất tự nhiên! Khác với những người “<em>mình ngồi thành thị</em>”, những người “<em>Khuất tịch non cao, náu mình sơn dã</em>” không còn bị sự giàu sang, lợi lộc cám dỗ, đua chen cạnh tranh, được sống chan hòa với thiên nhiên, có vượn hủ hỉ làm bạn, hàng ngày chỉ có việc quét hoa rụng, thắp hương cúng Bụt, niệm kinh cầu Bụt, nhưng điều quan trọng vẫn là phải giữ được “<em>niềm lòng vặc vặc, giác tính quang quang</em>”, nhận biết thân mình là huyễn ảo, “<em>vạn vật giai không</em>”, cho nên cuộc sống rừng núi dù khó khăn, “bữa đói bữa no”, thậm chí thịt xương mình có khi phải cắt chia cho chim cho cá, cũng không át cái thú lâm tuyền của một người đạt đạo:<strong></strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                          </strong><strong>景</strong><strong> </strong><strong>寂</strong><strong> </strong><strong>安</strong><strong> </strong><strong>居</strong><strong> </strong><strong>自</strong><strong> </strong><strong>在</strong><strong> </strong><strong>心</strong><strong> </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                          </strong><strong>涼</strong><strong> </strong><strong>風</strong><strong> </strong><strong>吹</strong><strong> </strong><strong>遞</strong><strong> </strong><strong>入</strong><strong> </strong><strong>松</strong><strong> </strong><strong>陰</strong><strong> </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                          </strong><strong>禪</strong><strong> </strong><strong>床</strong><strong> </strong><strong>樹</strong><strong> </strong><strong>下</strong><strong> </strong><strong>一</strong><strong> </strong><strong>經</strong><strong> </strong><strong>卷</strong><strong> </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                          </strong><strong>兩</strong><strong> </strong><strong>字</strong><strong> </strong><strong>清</strong><strong> </strong><strong>閒</strong><strong> </strong><strong>勝</strong><strong> </strong><strong>萬</strong><strong> </strong><strong>金</strong><strong> </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                              <em>Cảnh tịch an cư tự tại tâm,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                              Lương phong xuy đệ nhập tùng lâm.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                              Thiền sàng thụ hạ nhất kinh quyển,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                              Lưỡng tự thanh nhàn thắng vạn câm (kim).</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                              </em>(Sống yên, cảnh vắng, lặng lòng không,</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                              Gió mát hiu hiu lọt rặng tùng.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                              Dưới cội, giường Thiền, kinh một quyển,</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                              Thanh nhàn hai chữ, đáng muôn đồng).</span></p>
<p><span style="color:#003366;">      Thú lâm tuyền thật là êm ả, thanh nhàn mà ấm áp, không gợi cảm giác xa vắng.   <em> </em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">       Nhân Tông Điều Ngự đã nêu lên hai mẫu hình vui đạt đạo. Hai kiểu mẫu ấy có thật hấp dẫn hay không, có đủ sức đánh đuổi những “tham sân si” khỏi mỗi người hay không, ngày nay khó nói được chính xác, nhưng chắc chắn rằng đó là hai mẫu hình con người minh triết biết sống thanh thản, nhẹ nhàng mà “tử tế”, những con người thỏa mãn được nhu cầu về tâm linh nhưng cũng không quay lưng lại với nghĩa vụ trần thế. <em>Thánh đăng ngữ lục</em> còn ghi rằng cũng trong năm Giáp Thìn (1304), “<em>Điều Ngự đi khắp xóm làng, dạy dân chúng phá bỏ các đền thờ nhảm nhí và thực hành mười điều thiện</em>”. Làm điều thiện với trí tuệ sáng láng, không mê muội, đó là ý tưởng của Phật hoàng. Phật hoàng Trần Nhân Tông đã đặt những cơ sở tư tưởng để xây dựng nhân cách người dân đời Trần và xây dựng phong cách văn hóa thấm đẫm tinh thần nhân văn đời Trần.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">      Theo nhà nghiên cứu Thiền học Lê Mạnh Thát thì Thiền nước ta,  “<em>phát triển theo một hướng hoàn toàn khác</em>”, nhằm giải quyết một vấn đề tư tưởng, đã được nêu ra từ thế kỷ thứ V, đó là tại sao tu mà không thấy Phật? Để trả lời, Thiền Việt Nam đã đưa ra một quan niệm về Phật: “<em>Phật không phải là một đức Phật lịch sử, càng không phải là một đức Phật nằm ngoài ta. Phật nằm ngay chính trong ta. Vì thế, tu là thể hiện đức Phật này, là tìm thấy ở trong chính mình. Xuất phát từ một khởi điểm như vậy, Thiền Việt Nam trong quá trình phát triển tất phải chịu tác động của yêu cầu thực tế Việt Nam. Nếu trong quá trính phát triển ấy, ở nơi này nơi khác có những nét tương đồng với những truyền thống khác, thì chúng cũng chỉ thể hiện tính phổ quát, tính nhân loại mà thôi.</em>”<a title="" href="#_ftn10"><span style="color:#003366;">(10</span></a>)  </span></p>
<p><span style="color:#003366;">      Cố Giáo sư Cao Xuân Huy khi dạy ở Lớp Đại học Hán học của Viện Văn học (Khóa 1965 – 1968) từng giảng rằng tư tưởng Thiền đời Trần mang tinh thần cách mạng, chính nó góp phần làm nên những chiến công hiển hách đời Trần và góp phần tạo dựng nền văn hóa rất giàu tính sử thi và tính nhân văn của thời đại.         </span></p>
<p><span style="color:#003366;">      Ý kiến của hai học giả thâm hậu về Thiền học đã dẫn, rất đáng tin cậy. Đúng là Thiền thời đại Lý &#8211; Trần là công sức tạo dựng của dân tộc nhiều thế kỷ, (có thể từ thế kỷ thứ V hoặc sớm hơn, như ý kiến Lê Mạnh Thát), nhưng Thiến phái Trúc Lâm là sáng tạo của Trần Nhân Tông. Quả là trong Thiền Trần Nhân Tông “<em>ở nơi này nơi khác có những nét tương đồng với những truyền thống khác</em>” nhưng vẫn phải công nhận Thiền Trúc Lâm Việt Nam là đóng góp riêng của vị Tổ thứ nhất đời Trần. Chẳng hạn cũng có quát thét, thơ kệ “chẳng ăn nhập gì” với câu hỏi, nhưng không “chém mèo”, “khua chó”, “giơ phất trần”, đánh người đến chảy máu, mà gợi ra một cánh chim bằng vút lên trong gió, một mặt biển mênh mang với những con sóng thủy triều, một làng chài, một vườn đào tươi hoa, nhất là những câu giảng giải giản dị bằng chính tiếng mẹ đẻ &#8230; thì gần gũi, dễ dàng biết bao đối với những người bình thường muốn học đạo – hướng thiện. Người ta thấy các tông phái Thiền đều có “chốn tổ”, nhưng “phúc địa” Yên Tử không phải “của riêng” một tông phái, nó là của cả nước, của cả dân tộc. Yên Tử không phải là nơi các bậc cao tăng, khi không thèm nói chuyện với kẻ phàm tục thì quay lưng trở gót tìm đến mà là một quê hương để các Phật Tử nếu chưa một lần được trở về thì “chưa đành lòng tu”. Thiền vốn lạc quan, phá chấp, nhưng Điều Ngự không “khác lạ” đến mức gây ngạc nhiên cho những người dân bình thường như một vị đại sư có tên là Đắc Tâm của Trung Quốc, một lúc nuốt luôn đến mấy quả trứng gà rồi giải thích với một vẻ rất “bất cần”:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                          <strong>混</strong><strong> </strong><strong>沌</strong><strong> </strong><strong>乾</strong><strong> </strong><strong>坤</strong><strong> </strong><strong>一</strong><strong> </strong><strong>口</strong><strong> </strong><strong>包</strong><strong> </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                          </strong><strong>也</strong><strong> </strong><strong>無</strong><strong> </strong><strong>皮</strong><strong> </strong><strong>血</strong><strong> </strong><strong>也</strong><strong> </strong><strong>無</strong><strong> </strong><strong>毛</strong><strong> </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                          </strong><strong>老</strong><strong> </strong><strong>僧</strong><strong> </strong><strong>帶</strong><strong> </strong><strong>爾</strong><strong> </strong><strong>西</strong><strong> </strong><strong>方</strong><strong> </strong><strong>去</strong><strong> </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                          </strong><strong>免</strong><strong> </strong><strong>在</strong><strong> </strong><strong>人</strong><strong> </strong><strong>間</strong><strong> </strong><strong>受</strong><strong> </strong><strong>一</strong><strong> </strong><strong>刀</strong><strong> </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                              <em>Hỗn độn càn khôn nhất khẩu bao,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                              Dã vô bì huyết dã vô mao,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                              Lão tăng đới nhĩ Tây phương khứ,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                              Miễn tại nhân gian thụ nhất đao.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                              </em>(Lẫn lộn đất trời trong một bao,</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                              Không xương, không huyết, da lông đâu?</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                              Lão tăng đem nó đi Tây Trúc,</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                              Để tránh, trần gian, một nhát dao).</span></p>
<p><span style="color:#003366;">      Thế nhưng một tiếng cười ha hả sảng khoái giữa núi rừng biểu hiện niệm vui đạt đạo “đắc ý cong lòng” như Điều Ngự lại là một điều hiếm thấy trong làng Thiền&#8230;</span></p>
<p><span style="color:#003366;">      Nếu nói rằng Thiền Việt Nam ra đời trên cơ sở thực tiễn Việt Nam thì tư tưởng Thiền Trần Nhân Tông cũng như thế, ra đời trên thực tiễn xã hội đời Trần. Dân tộc Đại Việt đã trải qua ba cuộc chiến chống xâm lăng trong vòng ba mươi năm (1258 – 1288), Cần phải hàn gắn những vết thương chiến tranh, cả những vết thương tinh thần, xây dựng một nền thái bình thịnh trị cho đất nước và nỗ lực giữ gìn nó như Trần Quang Khải đã nói “<em>Thái bình tu nỗ lực</em>”. Xây dựng một xã hội đạo đức, nhân văn, luật lệ ổn định, tôn giáo có thể góp phần làm điều đó. Nhưng thông thường tôn giáo cũng có có thể khiến con người tổn thương vì những giới luật, lễ nghi khắt khe, hoặc sự mặc cảm “tội lỗi tổ tông”. Thiền Trúc Lâm không thế, Điều Ngự dạy cho người dân Đại Việt một lối sống vui, lành mạnh, an lạc giữa cõi đời trần tục. Phải chăng điều đó cũng xuất phát từ chính tấm lòng yêu thương con người, tấm lòng thương dân, thân dân, “<em>lấy ý nguyện của dân làm ý nguyện của mình</em>” thừa hưởng được từ ông nội, và một cách làm có phần khác ông nội của Phật hoàng Nhân Tông? <strong><em>Dung dị, khoáng đạt, an lạc giữa đời thường và tùy duyên</em></strong><em>, </em>chính là điểm nhấn riêng của tư tưởng Thiền Trần Nhân Tông.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>            3. Một tâm hồn thơ nhạy cảm và những vần thơ mang vẻ đẹp của “cái đạm”.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Nhân Tông là một con người đa dạng. Trong ông có bản lĩnh quả quyết, vững vàng của một nhà quân sự, có cái sắc bén, bình tĩnh ung dung của một nhà chính trị, ngoại giao, có sự sâu sắc thâm trầm của một nhà Thiền học và quán xuyến tất cả là lòng nhân ái, hồn hậu, yêu nước nồng nàn &#8230; của con người Việt Nam cùng với một tâm hồn thơ giàu cảm xúc, tinh tế. Nhân Tông trước tác nhiều, nhưng phần lớn đã mất. Do vậy trong trước tác còn lại, Nhân Tông hiện ra chủ yếu với tư cách nhà thơ mà là thơ trữ tình, ngay cả những lời giảng đạo của ông cũng đậm chất trữ tình. Ông dành nhiều tình cảm cho cảnh sắc thiên nhiên, trong đó có một phần cho Yên Tử. Ông ít trực tiếp nhắc đến địa danh Yên Tử, dù vậy có một mảng thơ văn của ông gắn bó và mang khí vị hùng vĩ, hoang sơ của rừng núi nơi này. Ông từng ngồi nghe gió thổi ngọn tùng mà nghĩ đến giá trị của nhữ &#8220;nhàn&#8221;:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                <strong>Cảnh tịch an cư tự tại tâm,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Lương phong xuy đệ nhập tùng lâm.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Thiền sàng thụ hạ nhất kinh quyển,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Lưỡng tự thanh nhàn thắng vạn câm (kim).</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                (<em>Cảnh vắng nơi yên tự tại lòng.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Hiu hiu gió thổi mát rừng thông.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Giường thiền dưới cội, kinh vài quyển,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Hai chữ thanh nhàn đáng vạn đồng.)</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                <strong>                        <em>Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca</em></strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">(Bản dịch cũ)</span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Ông cũng từng một mình &#8220;đối cảnh&#8221; trong một đêm trăng mênh mang trên núi Bảo Đài, một ngọn của dãy Yên Tử :</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Địa tịch đài du cổ,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Thời lai xuân vị thâm.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Vân sơn tương viễn cận,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Hoa kính bán tình âm.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Vạn sự thuỷ lưu thuỷ,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Bách niên tâm ngữ tâm.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Ỷ lan hoành ngọc địch,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Minh nguyệt mãn hung khâm.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                (<em>Đất vắng đền đài thêm cổ xưa,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Xuân sang, vừa đó mới theo mùa.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Gần, xa thấp thoáng mây lồng núi,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Nắng, rợp mơ hồ một ngõ hoa.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Nước đẩy nước trôi, đời vạn sự,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Tâm nghe lòng nhủ, một mình ta.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Nâng ngang ống sáo bên thềm vắng,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Đầy ngực trăng thanh tỏa ánh ngà.)</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                                                       <strong><em>(Đăng Bảo Đài sơn</em></strong> )</span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Và có lẽ nào không có bóng dáng cảnh quan Yên Tử trong những câu thuyết pháp sau đây :</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                &#8211; <em>Cánh bằng cao vút nương tầm gió,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Sóng biển êm đềm sáng ngọc trai</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                &#8211; Nước trắng mênh mông chim én lạc,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Vườn tiên đào thắm gió xuân say</em>.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Lại nữa, cũng từ một phòng nhỏ trên núi &#8211; Sơn phòng &#8211; rút cuộc Nhân Tông đã &#8220;liễu ngộ&#8221;, đã tìm ra chân lý:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                <strong>Thuỳ phược cánh tương cầu giải thoát,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Bất phàm hà tất mịch thần tiên.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                (<em>Ai trói phải tìm phương giải thoát,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Chẳng phàm hà tất học thần tiên!)</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                                        (<strong><em>Sơn phòng mạn hứng</em></strong>)</span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Hẳn đây cũng là một điều có ý nghĩa mà Nhân Tông đã tìm ra trong những ngày ở Yên Tử, những ngày &#8220;dốc lòng&#8221; nghiên cứu đạo Thiền. Song  dù vậy, Nhân Tông cũng không chỉ là con người của đạo. Tâm hồn nhạy cảm của ông còn dành cho nhiều sự việc khác. Có biết bao nhà thơ phương Đông làm thơ về hoa mai, nhưng Nhân Tông vẫn đến với hoa mai bằng những rung cảm riêng vừa thâm  trầm tinh tế, vừa sắc sảo nồng nàn:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                <strong>Ngũ xuất viên ba kim niễn tu,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                San hô trầm ảnh hải lân phù.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Cá tam đông bạch chi tiền diện,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Tá nhất biện hương xuân thượng đầu.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Cam lộ lưu phương si điệp tỉnh,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Dạ quang như thuỷ khát cầm sầu.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Hằng Nga nhược thức hoa giai vị,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Quế lãnh thiềm hàn chỉ má hưu.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                (<em>Năm cánh hoa tròn nhị điểm vàng,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                San hô, vẩy bạc vẻ vẻ tân trang.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Ba đông san sát cành khoe trắng,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Một thoáng xuân về đã rụng quang.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Móc ngọt chảy thơm tan giấc bướm,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Trăng đêm loáng nước khát chim rừng.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Hằng Nga ví biết hoa mai đẹp,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Đâu tiếc cung Thiềm lạnh quế hương.)</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                    </em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                </em><strong>Ngũ nhật kinh hàn lãn xuất môn,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Đông phong tiên dĩ đáo cô côn (căn).</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Ảnh hoành thuỷ diện băng sơ phán,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Hoa áp chi đầu noãn vị phân.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Thuý vũ ca trầm sơn điếm nguyệt,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Hoạ long xuy thấp Ngọc Quan vân.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Nhất chi mê nhập cố nhân mộng,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Giác hậu bất kham trì tặng quân.</strong></span></p>
<p style="text-align:left;padding-left:150px;"><span style="color:#003366;"><em>   (Mấy ngày ngại rét lười ra cửa,  </em></span></p>
<p style="text-align:left;padding-left:150px;"><span style="color:#003366;"><em>Gió ấm đang về bên gốc ma</em>i.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                <em>Bóng ngả trên sông băng mới rạn,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Đầu cành e ấp vẻ xuân tươi.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Hoạ long, sáo ướt mây quan ải,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Thuý vũ, ca chìm trăng xóm đồi.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Tỉnh giấc bâng khuâng lòng bạn cũ,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Khôn đem hoa mộng tặng đưa ai.)</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Trong truyền thống thơ phương Đông người ta thường khai thác ở cây mai vẻ cứng rắn, bất chấp gió sương, song Trần Nhân Tông chỉ cực tả vẻ đẹp bản nhiên của những cánh hoa mai mỏng mảnh, một vẻ đẹp tinh khiết mà linh động, hấp dẫn: cánh trắng điểm nhị vàng, óng ánh như bóng san hô chìm, như vẩy cá nổi; khi nở rộ thì trắng vườn, toả hương thơm dịu ngọt, khi hết mùa còn lại vài bông thì e ấp nép đầu cành &#8230; Những bông hoa mai rất thực nhưng dường như lại ảo. Suốt tháng cuối đông hoa khoe sắc, thu hút cảm giác vạn vật, thách thức cả cây quế cung Thiềm; thế mà chỉ qua vài hôm, mùa xuân chợt đến là màu trắng rạng rỡ ấy đã tan biến đi như một phép lạ. </span></p>
<p><span style="color:#003366;">Những đoá hoa mai của Nhân Tông gần gũi và xa vời biết bao! Hương thơm của hoa làm con bướm si mê phải giật mình tỉnh giấc, sắc hoa quyện ánh trăng loang loáng như nước làm cho con chim đang khát cháy cổ thêm buồn rầu; cành mai tươi mỏng mảnh rơi vào giấc mộng cố nhân khiến cho người tỉnh giấc càng bâng khuâng vì hoa chỉ là hoa trong mộng. Trần Nhân Tông thực đã viết những vần thơ độc đáo và tinh tế về hoa mai khiến cho những người bình thơ đến như phải bất lực. Các nhà am hiểu Thiền học có thể khen <strong><em>Tảo mai</em></strong> là bài thơ Thiền đặc sắc. Bởi lẽ ở đây &#8220;cái sắc&#8221; và &#8220;cái không&#8221; hoà quyện vào nhau bao nhiêu thì cái ham muốn và cái được nhận lại cách xa nhau bấy nhiêu. Dường như bài thơ là một lời chỉ dẫn cho đệ tử &#8220;cái vô thường&#8221; của vạn vật để từ đó biết hạn chế những dục vọng trong cuộc đời! Thế nhưng nếu bằng những cảm xúc thế tục, người đọc càng không thể không nhận ra vẻ vi diệu của những vần thơ này và cũng như tác giả vừa xúc động, vừa bâng khuâng trước vẻ đẹp của những nhành <em>mai sớm</em> ấy. Phải nói rằng những cành hoa mai Yên Tử này (có thể tin đây là mai Yên Tử vì đằng sau những cành mai không thấy bóng dáng một toà lâu các, một cánh rèm hoa hay những khách công hầu, những trang mỹ nữ mà chỉ có mây quan ải, trăng xóm đồi, băng trên sông và tấm lòng bạn cũ) cũng rất tình tứ và thế tục.      </span></p>
<p><span style="color:#003366;">Nhà thơ, nhà lý luận văn học nổi tiếng đời Thanh Viên Mai (1716-1798) của Trung Quốc sống sau Nhân Tông gần năm trăm năm cũng có hai câu thơ về hoa mai cấu tứ giống như thơ của Nhân Tông:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                              <em>Chỉ liên hương tuyết mai thiên thụ,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                              Bất đắc tuỳ thân đới thượng thuyền.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                              </em>(Tiếc thay thơm tuyết mai nghìn gốc,</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                              Chẳng thể mang theo cùng xuống thuyền).<a title="" href="#_ftn11"><span style="color:#003366;">(11)</span></a></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Nhưng câu thơ của Trần Nhân Tông gợi cảm hơn, bởi ở Trần Nhân Tông cái tình sâu hơn do xuyên suốt cả quá khứ và hiện tại, do tính huyễn ảo giữa mộng và thực tạo nên tính bất khả thi cao hơn, và có thể còn vì đậm ý vị thiền. </span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Về bút pháp tinh tế của Trần Nhân Tông còn có thể kể đến các bài <strong><em>Vũ Lâm thu vãn, Lạng Châu vãn cảnh</em></strong>. Có điều cảnh cuối thu ở Vũ Lâm thì màu sắc và hình ảnh đều đậm và tươi. Chúng đối lập nhau để bồi thấn cho nhau khiến cảnh vật đang lặng lẽ trở nên linh hoạt, vui mắt:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                <strong>Hoạ kiều đảo ảnh trám khê hoành,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Nhất mạt tà dương thuỷ ngoại minh.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Tịch tịch thiên sơn hồng diệp lạc,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Thấp vân như mộng viễn chung thanh. </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                (<em>Lòng khe in ngược bóng</em> <em>cầu hoa,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Hắt sáng bờ khe, vệt nắng tà.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                <em>Lặng lẽ nghìn non, rơi lá đỏ,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Mây giăng như mộng tiếng chuông xa.)</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                                                                <strong><em>Chiều thu ở Vũ Lâ</em>m</strong> </span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Trái lại cảnh chiều Châu Lạng lại rất tĩnh, các sắc màu như hoà vào nhau: lá đỏ, mây chiều, thuyền câu, chuông chùa &#8230; tất cả đều như chìm vào cảnh rừng thu sương móc mênh mang cùng ngôi chùa cổ hoang vắng:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                <strong>Cổ tự thê lương thu ái ngoại,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Ngư thuyền tiêu sắt mộ chung sơ.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Thuỷ minh, sơn tĩnh, bạch âu quá,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Phong định, vân nhàn, hồng thụ sơ.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                (<em>Chùa xưa lặng lẽ khói thu mờ,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Chiều quạnh thuyền câu, chuông vẳng đưa,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Núi lặng, nước quang, âu trắng rỡn,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                <em>Tạnh mây, im gió, đỏ cây thưa.)</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                      <strong><em>Lạng Châu vãn cảnh</em></strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong><em>                                                </em></strong>(Trần Lê Văn dịch)</span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Trần Nhân Tông đã đi hầu khắp đất nước. Trước khi đến với Yên Tử ông đã sống cuộc đời sôi động và vương giả. Trong thơ ông còn dấu ấn của những chặng đường đời ấy. Có những vần thơ hào hùng về những ngày đuổi giặc; có vần thơ đắc chí khi về thăm mộ ông nội  -  vua Trần Thái Tông &#8211; thấy thị vệ nghiêm túc, lòng người gắn bó với vương triều:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                <strong>Tì hổ thiên môn túc,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Y quan thất phẩm thông.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Bạch đầu quân sĩ tại,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Vãng vãng thuyết Nguyên Phong.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                (<em>Giáo đòng nghìn cửa mật,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Áo mũ, bảy phẩm chung.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Người lính già đầu bạc,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Kể mãi chuyện Nguyên Phong</em>.)</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                                        <strong><em>Xuân nhật yết Chiêu Lăng</em></strong>.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Nhân Tông còn có những vần thơ về quãng thời gian ở trong cung, khi ông còn là bậc chúa tể, &#8220;lòng còn ở trong trăm hoa mỗi khi xuân đến&#8221; (<em>Nhất xuân tâm tại bách hoa trung</em>). Đó là những vần thơ tươi trẻ, thể hiện trạng thái xốn xang bất ngờ nhận ra mùa xuân đã đến nhân chợt thấy cánh bướm quyến luyến bên hoa:      <strong>Thuỵ khởi khải song phi,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Bất tri xuân dĩ quy.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>Nhất song bạch hồ điệp,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Phách phách sấn hoa phi.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                (<em>Ngủ dậy ngỏ song mây,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Xuân về vẫn chửa hay.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Một đôi bươm bướm trắng,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Phấp phới sấn hoa bay.)</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                            <strong><em>Xuân hiểu</em></strong> &#8211; Nguyễn Đức Vân dịch          </span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Bài thơ diễn tả niềm vui, song đối với tác giả dường như giây phút ấy không nhiều. Phải chăng ông bận, có nhiều việc phải quan tâm, đến nỗi quên cả bước chân năm tháng, chỉ đến khi cuộc sống của muôn loài đã rộn ràng náo nức ông mới như chợt nhớ ra. Quả là nhà thơ đã lơ đãng, song sự lơ đãng ấy cũng là một nét đẹp trong tính cách Nhân Tông.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Có thể nói Nhân Tông không phải là một ông vua ham tìm kiếm những cuộc truy hoan. Mặc dù sống giữa ba cung sáu viện, không thiếu gì thú tiêu khiển, không thiếu gì hương sắc nhưng ông vẫn dành cho mình những buổi yên tĩnh nơi viện sách; ở đây sách, đèn, người và trăng như chiếm lĩnh cả không gian và thời gian:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                <strong>Bán song đăng ảnh mãn sàng thư,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Lộ trích thu đình dạ khí hư.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Thuỵ khởi châm thanh vô mịch xứ,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                (<em>Nửa song đèn sáng, sách đầy giường,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Đêm lạnh sân thu khí đẫm sương.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Thức dậy tiếng chầy đâu chẳng biết,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Trên cành hoa quế bóng trăng vương</em>.)</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                                                            (<strong><em>Nguyệ</em></strong><em>t</em>)</span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Bài thơ nói về trăng nhưng Nhân Tông cũng cho ta hiểu thêm một việc làm khác của ông: đọc sách, học hành. Cả ở lĩnh vực này nữa, ông cũng lao động nghiêm túc, miệt mài. Đêm mùa thu lạnh, ông vẫn chong đèn đọc sách đến khuya và chợp mắt trong tư thế làm việc &#8211; đèn vẫn sáng &#8211; khi tỉnh giấc đêm vẫn còn khuya, cả không gian im ắng, chỉ có mảnh trăng cuối tháng lửng lơ trên đầu cây “mộc tê” &#8230; Nếu nói rằng trong thơ có hoạ thì các bài thơ này, <strong><em>Lạng Châu vãn cảnh, Vũ Lâm thu vãn,</em></strong> là những bài đạt đến trình độ ấy. Song không phải thơ trần Nhân Tông chỉ có cỏ cây hoa lá. Ông là nhà thơ đầu tiên thời trung đại nói đến nỗi lòng cung nữ. Những người con gái được tiến cung, trở thành cung nữ, buồn vì sự trống trải, họ oán giận vị đông quân thờ ơ với họ nhưng dù vậy họ vẫn khao khát chờ đợi một chút đoái tưởng của bậc chúa tể:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                <strong>Thuỵ khởi câu liêm khán truỵ hồng,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Hoàng ly bất ngữ oán đông phong.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Vô đoan lạc nhật tây lâu ngoại,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Hoa ảnh chi đầu tận hướng đông.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                (<em>Ngủ dậy xem hoa rụng trước mành,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Giận đông phong, lặng tiếng chim oanh.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Không dưng ác lặn bên lầu vắng,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Cùng ngoảnh về đông, bóng lá cành.)</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                                                                 (<strong><em>Khuê oán</em></strong>)</span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Với hai mươi tám chữ ngắn ngủi, Nhân Tông đã diễn tả khá đầy đủ tâm trạng phức tạp và thầm kín của những người cung nữ. Sự hiểu biết này một lần nữa chứng tỏ tấm lòng nhân ái của ông.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Cuối cùng xin nói đến cảm xúc tinh tế ấm áp mà đậm cảm quan Thiền của Trần Nhân Tông trong một chiều thanh bình ở phủ Thiên Trường. Không gian thì mơ hồ nhưng cuộc sống thì sinh động và rất thực, nó cho ta cảm giác về một vùng quê an lạc rất đỗi thân quen, song không phải lúc nào cũng có được:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                <strong>Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Bán vô bán hữu tịch dương biên.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Mục đồng địch lý quy ngưu tận,</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>                                                Bạch lộ song song phi hạ điền.</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                (<em>Xóm trước, thôn sau tựa khói lồng,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                                                Trời chiều dường có lại dường không.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                <em>Mục đồng sáo vẳng trâu về hết,</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                <em>Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.)</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">                                                                        <strong><em>Thiên Trường vãn vọng</em></strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong><em>            </em></strong>Bài thơ như một bức tranh mà nói như Gs. Nguyễn Khắc Phi “dựng lên được một không gian nghệ thuật mang tính lập thể”<a title="" href="#_ftn12"><span style="color:#003366;">(12</span></a>), có <em>xa</em> – thôn làng trong đường viền mờ như khói (trước thôn, sau thôn) dưới ánh chiều tà – và <em>gần</em> – cánh đồng, đàn trẻ trâu đang giong trâu về thong thả trong tiếng sáo; có <em>cao</em> là từng không với những cánh cò trắng bay và <em>thấp</em> là cánh đồng từng đôi cò đang hạ cánh.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Tứ thiền, cảm quan Thiền ở đây là quan niệm về “có &#8211; không”; cái “có &#8211; không” cảm nhận được từ thị giác, nhưng “có &#8211; không” cũng còn được cảm nhận qua ánh nắng chiều, cái khoảng thời gian đang ở biên độ mong manh giữa sáng và tối. Nhưng Thiên Trường là quê hương Trần Nhân Tông, ở đấy có Hành cung Thiên Trường mang tên cung Trùng Quang và một số cung điện khác. Cho nên “Cảnh chiều ở Thiên Trường” là một cảnh quan có thật, đến cả cái vẻ thiền nhất là màu đạm nhoà khói sương của thôn làng cũng rất thật. Bởi lẽ thời điểm bấy giờ đã là chiều tà. Khói chiều, khói chứ không phải sương, bay lên từ những mái tranh rồi lan toả khiến nó trở nên một mảng nhạt mờ viền quanh thôn xóm cũng là cảnh thật; thế rồi trẻ trâu, tiếng sáo, cánh cò và cả nắng chiều mơ hồ cũng đều là cảnh có thật, rất thật. Một làng quê có khói chiều, có trẻ em chăn trâu, buổi chiều giong trâu về trong tiếng sáo, có cánh cò, những đôi cò trằng sóng đôi (mà Gs. Lê Trí Viễn coi là biểu tượng của sự sinh sôi, hạnh phúc) đậu xuống cánh đồng tìm ăn<a title="" href="#_ftn13"><span style="color:#003366;">(13)</span></a> là hình tượng gợi lên sự no ấm thanh bình, là khoảnh khắc và cũng là vĩnh cửu. Bởi lẽ hình ảnh khói lam chiều, tiếng sáo trẻ trâu, cánh cò vẫn còn là những hình tượng đẹp trong thơ mới, trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đầu thế kỷ XX. Và tiếng sáo trẻ trâu buổi hoàng hôn cũng từng gợi trong Chủ tịch Hồ Chí Minh một tứ thơ vui trong những ngày tù đầy gian khổ trên đất Trung Hoa: <em>Mục đồng xuy địch dẫn ngưu quy </em>(Trẻ dắt trâu về tiếng sáo bay – <strong><em>Hoàng hôn, Nhật ký trong tù)</em></strong>. Cảnh chiều ở Thiên Trường quả đúng là một cảnh làng quê thanh bình, an lạc lý tưởng không riêng chỉ của một thời xa xưa. Nhưng mặt khác trong con mắt thơ và Thiền của Trần Nhân Tông cảnh thực đã được thăng hoa, mang ý nghĩa của quan niệm thiền “ở đời vui đạo”. Và cũng bởi lẽ Thiên Trường, Lạng Châu đều là những nơi đã từng bị gót giày xâm lược của quân Nguyên tràn qua, tàn phá; đứng vững và trở lại được cảnh thanh bình hiện hữu mà tác giả được thấy quả là “nhờ phúc tổ tông”, cho nên niềm vui được nhân lên, sự trân trọng cái hạnh phúc hiện hữu được nhân lên, nhưng không hẳn trong niềm vui, hạnh phúc không còn thấp thoáng những dấu vết khổ đau, âu lo, đem lại những cảm xúc, suy tư trái chiều&#8230; Đúng như ý kiến của Gs. Nguyễn Khắc Phi: “<strong><em>Thiên Trường vãn vọng</em></strong> là một tuyệt tác, một trong những bài thơ tứ tuyệt Đường luật cô đọng nhất, một trong những bài thơ trữ tình hay nhất của văn học trung đại Việt Nam”.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"> </span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Nhân Tông mất ngày 3 tháng Mười một năm Mâụ thân (16. XI. 1308), tại am Ngọa Vân, núi Yên Tử. Nhìn chung lại ông là một con người toàn vẹn. Bỏ qua những hạn chế lịch sử mang tính chất thời đại, có thể thấy Nhân Tông rất có công trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc. Ông rất xứng đáng là người tiêu biểu cho đất nước, dân tộc một thời. Một nhà chính trị, ngoại giao như ông không phải dễ tìm; một vị giáo chủ như ông thật là cao siêu minh triết và một nhà thơ như ông cũng vào loại hiếm. Trong thời thịnh Trần, Nhân Tông là một nhà thơ có phong cách và cũng là một đỉnh cao. Viên Mai, khi bàn về thơ có nói: &#8220;Thơ nên đạm không nên nồng nhưng phải là cái đạm sau khi đã nồng&#8221;(<strong><em>Tuỳ Viên thi thoại</em></strong>). Nhiều bài thơ của Nhân Tông đã đạt đến vị &#8220;đạm&#8221; ấy. Có điều ngay cả những bài thơ &#8220;nồng&#8221; của ông như <strong><em>Xuân Nhật yết Chiêu Lăng, Xuân hiểu,&#8230;</em></strong> chắc gì đã thua kém những bài thơ &#8220;đạm&#8221;. Trần Nhân Tông cũng là người đầu tiên sáng tác phú bằng tiếng Việt mà lại là để thuyết giảng về những vấn đề triết học, về đạo Thiền. Với hai tác phẩm còn lại <strong><em>Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca </em></strong>và<strong><em> Cư trần lạc đạo phú, </em></strong>Trần Nhân Tông cũng là người khai sáng ra dòng thơ ca viết bằng tiếng Việt, để đến thế kỷ XV, XVI các đại tác gia Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh &#8230; tiếp tục những thành tựu lớn. Nếu mượn câu nhận xét của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng về Nguyễn Trãi: &#8220;Nhiều tài hoa như vậy dồn cho một người là điều hiếm có&#8221; để suy tôn Trần Nhân Tông hẳn cũng không đến nỗi quá lời. </span></p>
<p>Trần Thị Băng Thanh</p>
<div>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<div>
<p><a title="" href="#_ftnref1">(1)</a> Ngô Thì Sĩ , <em>Việt sử tiêu án, Nhân Tông hoàng đế.</em><em></em></p>
</div>
<div>
<p><a title="" href="#_ftnref2">(2)</a> <em>Đại Việt sử ký toàn thư,</em> Bản kỷ, quyển V</p>
</div>
<div>
<p><a title="" href="#_ftnref3">(3</a> <em>Việt sử tiêu án,</em> sách đã dẫn</p>
</div>
<div>
<p><a title="" href="#_ftnref4">(4)</a> Tương truyền Tấn Văn Công trong những ngày gian khổ mưu cầu sự nghiệp bá vương, có lúc bị đói, Giới Chi Thôi đã cắt thịt đùi mình dâng ông ăn. Sau khi thành công, khen thưởng, Tấn văn Công quên Giới Tử Thôi, Giới hận bỏ vào núi ở ẩn, sau Văn Công nhớ ra triệu vời nhưng Giới không đến; Văn Công sai đốt rừng, Giới Tử Thôi đành chịu chết cháy chứ nhất định không ra. Tấn Văn Công hối hận, từ đó sai lệnh cấm lửa trong ngày này (mồng 3 thấng 3) để tưởng nhớ người bề tôi trung thành mà ông vì vô tâm đã bỏ quên.</p>
<p>Người lính dâng cơm hẩm cho vua Nhân Tông tên là Trần Lai. Những sự việc này đều được chép trong <strong><em>Đại Việt sử ký toàn thư,</em></strong> Quyển V, vào các năm 1284, 1292<strong><em>.</em></strong></p>
</div>
<div>
<p><a title="" href="#_ftnref5">(5)</a> <em>An Nam chí lược</em>, Q.III, bản dịch. Tài liệu tham khảo, Thư viện Viện Văn học.</p>
</div>
<div>
<p><a title="" href="#_ftnref6">(6)</a> ) <em>An Nam chí lược</em>, Q.XVII, Sách đã dẫn.</p>
</div>
<div>
<p><a title="" href="#_ftnref7">(7)</a> Cũng theo <em>Thánh đăng ngữ lục,</em> một lần Pháp Loa trình Điều Ngự ba bài tụng cốt yếu, đều bị Điều Ngự  “lấy bút gạch bỏ”, Pháp Loa hỏi đi hỏi lại đến 4, 5 lần, Điều Ngự đều bảo “tự tham cứu lấy”. Trở về phòng lòng rất xao xuyến, cho tới nửa đêm, chợt thấy hoa đèn rụng, “bỗng nhiên đại ngộ”, bèn viết những điều đã tỏ ngộ trìn lên, liền được Điều Ngự hài lòng ấn chứng</p>
</div>
<div>
<p><a title="" href="#_ftnref8">(7)</a> ) <em>Thơ văn Lý Trần</em>, Tập II, Q. thượng; Nxb. Khoa học xã hội, 1989</p>
</div>
<div>
<p><a title="" href="#_ftnref9">(9)</a> <em>Toàn tập Trần Nhân Tông, </em>Nxb. TP. Hồ Chí Minh, 2000, đoạn bàn về buổi giảng tại chùa Sùng Nghiêm vào cuối năm Giáp Thìn (1304), tr.216.</p>
</div>
<div>
<p><a title="" href="#_ftnref10">(10</a> <em>Toàn tập Trần Nhân Tông,</em> Sđd, tr. 217</p>
</div>
<div>
<p><a title="" href="#_ftnref11">(11)</a> Những ý kiến về Viên Mai trích trong bài đều theo <strong><em>Tuỳ Viên thi thoại, </em></strong>Nguyễn Đức Vân dịch, Nguyễn Phúc giới thiệu, tuyển chọn; Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1999.</p>
</div>
<div>
<p><a title="" href="#_ftnref12">(12</a> Nguyễn Khắc Phi, <strong><em>Thiên Trường vãn vọng, một kiệt tác của Trần Nhân Tông,</em></strong> bài viết nhan dịp kỷ niệm 700 mất của Trần Nhân Tông</p>
</div>
<div>
<p><a title="" href="#_ftnref13">(13)</a> Có ý kiến cho rằng phải dịch câu <em>Bạch lộ song song phi hạ điền </em>là: “Từng đôi cò trắng bay trên cánh đồng (về tổ)”, bởi cò không ăn đêm, chiều tối chúng bay về tổ. Thoạt nghe có vẻ hữu lý, bởi vạc mới là loài chim ăn đêm, nhưng thực ra thời gian của bài thơ chưa phải là tối &#8211; đêm, hơn thế bản thân người viết bài này thuở bé khi “chạy tản cư” về thôn quê đã chứng kiến cảnh những con cò tìm ăn trên cánh đồng vào những buổi chiều, kể cả khi trời đã muộn.</p>
</div>
</div>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/vietsuky.wordpress.com/1816/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/vietsuky.wordpress.com/1816/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/vietsuky.wordpress.com/1816/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/vietsuky.wordpress.com/1816/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/vietsuky.wordpress.com/1816/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/vietsuky.wordpress.com/1816/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/vietsuky.wordpress.com/1816/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/vietsuky.wordpress.com/1816/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/vietsuky.wordpress.com/1816/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/vietsuky.wordpress.com/1816/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/vietsuky.wordpress.com/1816/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/vietsuky.wordpress.com/1816/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/vietsuky.wordpress.com/1816/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/vietsuky.wordpress.com/1816/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vietsuky.wordpress.com&amp;blog=29420608&amp;post=1816&amp;subd=vietsuky&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/20/72-tran-nhan-tong-su-nghiep-doi-va-dao/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>4</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/c3f46a060a458b1967070ec26d4dd571?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">vietsuky</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>71. TRẦN NHÂN TÔNG &#8211; NHIỀU TRONG MỘT</title>
		<link>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/19/71-tran-nhan-tong-nhieu-trong-mot/</link>
		<comments>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/19/71-tran-nhan-tong-nhieu-trong-mot/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 19 Feb 2012 13:15:11 +0000</pubDate>
		<dc:creator>vietsuky</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sử liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Trao đổi]]></category>
		<category><![CDATA[Ngô Sĩ Liên]]></category>
		<category><![CDATA[quân Nguyên Mông]]></category>
		<category><![CDATA[Trần Cảnh]]></category>
		<category><![CDATA[Trần Hưng Đạo]]></category>
		<category><![CDATA[Trung Quốc]]></category>
		<category><![CDATA[Đại Việt]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vietsuky.wordpress.com/?p=1809</guid>
		<description><![CDATA[Tham luận tại Hội Nghị Giải thưởng Quốc tế Trần Nhân Tông về Hoà giải và Yêu thương, sáng ngày 16/2/2012, Trung tâm hội nghị Quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội. Mời xem tin:  “Chấn hưng văn hóa bằng tinh thần Hòa giải và Yêu thương” (VNN). TRẦN NHÂN TÔNG &#8211; NHIỀU TRONG MỘT Trần Ngọc [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vietsuky.wordpress.com&amp;blog=29420608&amp;post=1809&amp;subd=vietsuky&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<blockquote>
<p style="text-align:left;" align="center">Tham luận tại <strong>Hội Nghị Giải thưởng Quốc tế Trần Nhân Tông về Hoà giải và Yêu thương, </strong>sáng<strong> </strong>ngày 16/2/2012, Trung tâm hội nghị Quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội. Mời xem tin:  <a id="MAA4AEgOUABgAWoFdmlfdm56AA" title="Không chỉ mang đậm tinh thần thời đại, trong bối cảnh hiện đại, khi công nghệ ngày càng tiến bộ nhưng suy thoái đạo đức cũng ngày càng tăng, những hoạt động chấn hưng văn hóa thông qua giáo dục tư tưởng như Giải thưởng Quốc tế Trần Nhân Tông về Hòa ..." href="http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/60757/-chan-hung-van-hoa-bang-tinh-than-hoa-giai-va-yeu-thuong-.html" target="_blank">“Chấn hưng văn hóa bằng tinh thần Hòa giải và Yêu thương”</a> (VNN).</p>
</blockquote>
<h1 style="text-align:left;" align="center"><span style="color:#003366;"><strong>TRẦN NHÂN TÔNG &#8211; NHIỀU TRONG MỘT</strong></span></h1>
<p style="text-align:left;" align="right"><strong><em>Trần Ngọc Vương *<br />
</em></strong></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>1.- Quan chiêm một cuộc giáng trần</strong>:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Năm Mậu Ngọ 1258 đối với vương Triều nhà Trần nói riêng, với quốc gia Đại Việt nói chung diễn ra ít nhất ba sự kiện quan trọng, quan trọng ở tầm chi phối trực tiếp đến việc định tính bản chất của triều đại và vận mệnh của quốc gia dân tộc: cuộc kháng chiến chống quân Nguyên -  Mông lần thứ nhất kết thúc thắng lợi, vua khai cơ của vương triều là Trần Cảnh (Thái Tông) lui làm Thượng hoàng để con trai kế vị Trần Hoảng (Thánh Tông) “ra mặt tiền” trực tiếp nắm lấy chính sự và tháng trọng đông năm ấy Hoàng trưởng tử Trần Khâm chào đời.</span></p>
<p><span id="more-1809"></span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Lời “đại nghị” của sử thần nhà Hậu Lê về vị vua tương lai này như sau: <em>“ Tên huý là Khâm, con trưởng của Thánh Tông, mẹ là Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng thái hậu, sinh năm Mậu Ngọ Nguyên Phong năm thứ 8, tháng 11, ngày 11, được tinh anh thánh nhân, thuần tuý đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng. Hai cung (</em>tức cung vua và cung Thượng hoàng – TNV<em>) đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên đồng tử. Trên vai bên trái có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn, ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, băng ở am Ngoạ Vân núi Yên Tử, đưa về táng ở Đức Lăng. Vua nhân từ hoà nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thuở trước, thực là bậc vua hiền của nhà Trần. Song để tâm nơi kinh Phật, tuy nói là để siêu thoát, nhưng đó không phải là đạo trung dung của thánh nhân.”</em>.(<a title="" href="#_ftn1"><span style="color:#003366;">[1]</span></a>).</span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Các sử quan, tác giả của <em>Đại Việt sử ký toàn thư</em>, tất cả đều là nhà Nho xuất chính, hơn thế, lại xuất chính &#8211; trì chính vào thời Nho giáo chiếm giữ địa vị độc tôn, đương nhiên huy động và sử dụng hết mọi “tiêu chí lý luận” của học thuyết “phe ta” để đánh giá vạn sự. Chẳng có gì lạ khi đọc câu cuối của lời “bình nghị”. Nhưng ngoài lời “dèm” “cho phải phép” đó ra, họ chẳng thể che giấu được thái độ sùng kính rất mực.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Bởi trên mọi chiều kích, Trần Nhân Tông quả là một nhân cách lịch sử lỗi lạc.Tiểu sử và hành trạng của Ngài cung cấp cho các bậc thức giả đời sau hàng loạt dữ kiện để thấu hiểu thế nào là một vị “minh quân” trong thực tế, thế nào là cái xã hội “khoan giản an lạc”, “trên dưới một lòng”, bằng cách gì để một cá nhân có thể sống giữa cõi trần muôn nỗi ưu phiền với thái độ tự tại an nhiên, không những thế, hơn thế, còn có được cảm thức “ngày hằng sống, ngày hằng vui” trong khi vẫn nỗ lực đến “những hơi thở cuối cùng” phụng sự cho cái “cõi nhân gian bé tí” cũng lại là nơi mình dấn thân, vào cuộc.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Trong những lời “đại dẫn”, bản “lý lịch trích ngang” vừa đề cập tới ở trên, tuy rất vắn tắt, đã kịp cho biết ngay thuở lọt lòng, Ngài đã được “soi” bởi những tín điều của nhân tướng học, của trí tưởng tượng văn học Đạo gia, của chính trị học Nho gia và của chủ nghĩa yêu nước bản địa.Ngài thệ thế theo nẻo Thiền môn, trước khi kịp mở ra cho vô lượng chúng sinh một cõi giác trong môi trường “xanh, sạch, đẹp” với trúc tùng và mây nước.Ngài đến, tạm trú rồi lại ra đi trong một cuộc lữ hành ngắn ngủi, vậy mà vẫn để lại nhiều dư quang, nhiều dấu tích làm sao! Cúi xin Người, để một hạt máu phôi pha của Trần tộc loang đến cõi Nam hôm nay được hồi hương chiêm bái, được thốt lên những gì nhục nhãn và tâm nhãn đang cùng tiếp thụ.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">            <strong>2.- Điểm đỉnh của hào khí Đông A và tầm viễn kiến đối với vận mệnh dân tộc &#8211; Trần Nhân Tông trong tư cách nhà chính trị:</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>            </strong>Như đã biết, đầu năm 1258 nhà Trần vừa hoàn thành võ công kháng chiến chống quân Nguyên &#8211; Mông lần thứ nhất thành công thì gần cuối năm, Hoàng thái tử Khâm chào đời. Cũng phải nói rõ rằng cuộc đụng độ đầu tiên giữa quân dân Đại Việt với quân Nguyên &#8211; Mông này chưa phải là “cuộc đối đầu lịch sử” đích thực.Trên đà bình định Trung Hoa, quân Nguyên &#8211; Mông vừa “tiện thể” chinh phạt và chiếm đóng rồi sát nhập luôn cả xứ Vân Nam rộng lớn vào bản đồ đế chế của mình, để rồi hậu lai, vùng đất ấy mặc nhiên là “nội địa” của Trung Quốc &#8211; điều mà các triều đại Hán tộc từng làm chủ Trung nguyên trước đó chưa bao giờ làm nổi. Bình định được xứ Vân Nam rộng lớn, nhưng quân Nguyên &#8211; Mông vẫn chưa “xoá sổ” được nhà Nam Tống, nên việc để cho một đạo binh từ Vân Nam tràn sang đất Đại Việt lần này chỉ mới như “hoàn lưu của một trận bão”, và khi bị chống trả quyết liệt, đạo binh này phải rút chạy cũng chưa làm cho các “Đại Hãn” quá đỗi giật mình. Tuy nhiên, đối với vua tôi nhà Trần, đó lại là một sự cảnh báo có tầm nghiêm trọng sống còn. Nhất định phải tổ chức lãnh đạo và xây dựng đất nước sao cho đủ sức đối phó với một (hay những) cuộc xâm lăng trực diện, dữ dằn hơn gấp nhiều lần so với lần đụng độ đầu tiên đó. Và lịch sử dường như “bố cục” sẵn: Trần Quốc Tuấn chính là vị thân vương trẻ tuổi đối đầu trực diện với quân Nguyên Mông lần ấy, bởi lúc bấy giờ Ngài đang đảm trách việc coi giữ lộ Lạng Giang, Hoàng Thái tử sẽ ra đời vào dịp cuối năm, để rồi kịp trưởng thành, kịp đảm nhiệm lấy sứ mệnh là vị quốc chủ của hai lần đối đầu thực sự với kẻ địch khủng khiếp ấy, nhân đó nhận về hai đại võ công vô tiền khoáng hậu.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Xưa nay, bất cứ ai khi nhắc về hào khí Đông A thì đều nghĩ ngay tới bậc đại anh hùng Trần Hưng Đạo.Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã hẳn nhiên là nhà quân sự thiên tài, vị Quốc Công tiết chế văn võ kiêm toàn, khi sống làm “thượng phụ”, làm “vua không ngôi”, khi mất được trong triều ngoài nội đồng lòng tôn làm Thánh, tên tuổi đã trở thành bất tử cùng non sông đất nước. Nhưng vẫn cần bình tĩnh nhớ cho, rằng để tạo dựng được một võ công hiển hách lẫy lừng, nhất thiết phải có một điểm tựa cộng đồng hùng mạnh cộng với một nền, rồi một đường lối chính trị trực tiếp đủ sáng suốt và quyết đoán. Vai trò của vị “quốc chủ”, người xác lập và đưa ra những quyết đoán chính trị tối hậu, trong mọi trường hợp, cứ phải đóng vai trò tiên quyết. Người Việt đời Trần thường “khôn nhanh, chín sớm”, ở địa vị nguyên thủ quốc gia càng như thế. Ở vào tuổi 27, rồi tuổi 30, đấng <em>Vạn tuế gia</em> của nước Việt lúc bấy giờ thực sự đã đủ trở nên nhà chính trị lão luyện.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Điều vừa nói không phải là một suy luận lôgic mang tính lý thuyết trừu tượng, mà được chứng thực bằng hàng loạt những dữ kiện thực tế, có hệ thống.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Giữa các triều đại lớn trong lịch sử Việt Nam, nhà Trần là triều đại duy trì lâu dài <em>“thượng hoàng chế”</em>. Có lẽ cơ chế này được bắt đầu bằng một bối cảnh có phần tế nhị: ngôi vua chuyển sang tay họ Trần là kết quả của một sự sắp đặt bởi Trần Thủ Độ cuộc hôn nhân chính trị giữa một nữ hoàng bé bỏng (Lý Chiêu hoàng, lúc thành hôn mới lên 7)     với một “ấu quan” (Trần Cảnh, mới lên 8), mà nhà thiết kế đích thực ra triều đại mới kia  thì không muốn ra mặt làm một thứ “lộng thần” nên phải sớm tôn lập cha đẻ của vua (Trần Thừa) làm Thượng hoàng để việc nước được thực sự bàn bạc và quyết định “giữa người lớn với nhau”. Thế nhưng rồi tính chất “quyền nghi” ấy đã trở nên ổn định, biến thành cơ chế. Các vua Trần về sau, khi đã lui làm Thượng hoàng, trên thực tế chỉ không can thiệp vào các công việc hàng ngày hay có tính vụn vặt, nhưng vẫn thường xuyên để mắt đến những gì là đại sự. Và không một vị “vua &#8211; con” nào dám đi quá xa ra ngoài ý chí của các đấng bề trên vẫn còn nguyên vẹn quyền uy ấy. <em>“Thượng hoàng chế”</em> không còn tồn tại ở các triều đại sau, nhưng dư âm của nó vẫn gây ấn tượng đến mức mãi tới giữa triều Nguyễn, ông vua nổi tiếng say mê văn chương và lịch sử, cũng nổi tiếng về sự “riết róng” trong các lời “châu phê” vào quốc sử như Tự Đức cũng còn thèm tiếc mà ngự bút rằng “<em>Phép truyền ngôi vua này của nhà Trần cũng hay, có thể bắt chước được!</em>”(<a title="" href="#_ftn2"><span style="color:#003366;">[2]</span></a>).</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Ngay từ năm đầu Nhân Tông lên ngôi, hàng loạt thách thức theo nhau ập đến.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Thách thức đầu tiên là việc quân Nguyên đánh tan đại binh của nhà Nam Tống ở Nhai Sơn (Tân Hội, Quảng Đông). Sử chép<em>: “ Quân Tống thua, Tả thừa tường nhà Tống là Lục Tú Phu cõng vua Tống nhảy xuống biển chết. Hậu cung và các quan chết theo rất nhiều. Qua 7 ngày có đến hơn 10 vạn xác chết nổi lên mặt biển. Xác vua Tống cũng ở trong số đó… Năm ấy (1279) nhà Tống mất”</em> (<a title="" href="#_ftn3"><span style="color:#003366;">[3]</span></a>).Đương nhiên, với triều đình nhà Nguyên, từ đây họ hoàn toàn chính thức là Hoàng đế ở Trung nguyên. Vua tôi nhà Trần không còn phải đồng thời thông hiếu với nhà Tống vừa phải tiến cống nhà Nguyên, nhưng hiểm hoạ đe doạ sự sống còn của quốc gia thì vì thế lại tăng lên rõ rệt.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Hàng loạt sự kiện tiếp sau chứng thực mối nguy cơ ấy.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Trên thực tế thì vào năm 1258 sau cuộc đụng đầu lần thứ nhất với quân Nguyên, Trần Cảnh (Thái Tông) đã nhường ngôi cho Trần Hoảng (Thánh Tông) còn tự mình lui làm Thượng hoàng, nhưng hẳn là đối với người Nguyên (và có lẽ đối với cả người Tống nữa) thì cho mãi tới năm 1277 Trần Cảnh vẫn còn là An Nam quốc vương. Sự gần gũi ngẫu nhiên của thời điểm Trần Thái Tông mất với việc Trần Thánh Tông nhường ngôi cho Trần Nhân Tông (cuối năm 1278) khiến người Nguyên coi rằng đó mới là lúc Trần Thánh Tông kế vị. Lấy lý do  (mà có lẽ thế thật!) vua mới ở An Nam không “thỉnh mệnh” đã “tự lập”, Nguyên Thế Tổ (Hốt Tất Liệt) sai Thượng thư bộ Lễ  là Sài Thung cùng một “bộ sậu” khá hùng hậu sang “trách hỏi”, đồng thời “tuyên dụ” đòi “quân trưởng của nước nội phụ” này phải thân hành sang triều kiến. Thánh Tông không đi, đã hẳn, mà Nhân Tông cũng không thể “đi thay”. Vậy là vừa phải khéo léo đối phó qua con đường ngoại giao, vừa phải cấp bách chuẩn bị lực lượng vũ trang để giữ nước.(<a title="" href="#_ftn4"><span style="color:#003366;">[4]</span></a>).</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Tháng tư năm 1279 Khu mật viện nhà Nguyên đã xin Hốt Tất Liệt “ban sư” chinh phạt Đại Việt. Vì Hốt Tất Liệt tham vọng chỉ thông qua con đường đe doạ ngoại giao mà thu phục nước ta, nên ông ta giữ sứ bộ ta lại, một lần nữa sai Sài Thung cùng Thượng thư bộ Binh là Lương Tằng (2 thượng thư trong một sứ bộ, quả là điều “xưa nay hiếm”! &#8211; TNV) cùng phó sứ của ta quay sang Thăng Long  “đối chất” với vua tôi nhà Trần. Hốt Tất Liệt yêu cầu vua Trần nếu không sang chầu phải cống “người vàng mắt ngọc” thế thân, cùng với nhiều nhân tài bảo vật khác…Vua tôi nhà Trần không đáp ứng đòi hỏi ngang ngược của vua Nguyên, mà tìm kế sách kéo dài thời gian cho sự chuẩn bị.Năm 1281, Trần Nhân Tông cho chú họ là Trần Di Ái thay mình cùng Lê Tuân, Lê Mục đi cùng sứ bộ Sài Thung sang Nguyên.Hốt Tất Liệt dĩ nhiên biết “võ” của nhà Trần, muốn tương kế tựu kế, bèn phong cho Trần Di Ái làm An Nam quốc vương, hai kẻ đi theo làm thượng thư, làm Hàn lâm học sĩ, lại xuống chiếu thư cho vua Trần rằng “<em>Ngươi đã cáo bệnh không vào chầu, nay cho ngươi được nghỉ mà thuốc thang điều dưỡng</em> (sic!), <em>ta đã lập chú ngươi là Di Ái thay ngươi làm vua nước An Nam, cai trị dân chúng của ngươi…</em>”.(<a title="" href="#_ftn5"><span style="color:#003366;">[5]</span></a>). Nhưng đương nhiên, khi cái bộ sậu bù nhìn này chưa về đến nơi đã bị nhà vua sai quân chặn đường đón đánh. Trong khi đó, triều đình vẫn “nhũn nhặn” đón tiếp sứ bộ Sài Thung một lần nữa rất “chu đáo”, Thái sư Trần Quang Khải thậm chí còn làm thơ bày tỏ tình “ ngậm ngùi ly biệt”.Cuối năm 1283, nhà Trần lại cho người sang Nguyên đưa thư từ chối thẳng kế sách “mượn đường đánh Chiêm Thành” của chúng.Đến mức này, thì mọi chuyện chỉ còn chực bùng nổ.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Dù sao thì kế hoạch “kéo cưa lừa xẻ” của nhà Trần cũng đã làm chậm lại những vó ngựa đang chờ đến chồn chân của đội kiêu binh vừa tận diệt xong được một vương triều lớn của Hán tộc dậm dật muốn nhổ nốt cái gai từng chọc một lần vào mắt chúng.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Bằng hàng loạt những hoạt động đối nội, Hoàng đế Trần Nhân Tông rất nhanh chóng chứng tỏ khả năng cố kết nhân tâm, kiên nhẫn “đãi cát tìm vàng” để tận dụng nhân tài, trước hết phục vụ cho sự nghiệp chống ngoại xâm mà chỉ tiên liệu sơ sài cũng biết sẽ vô cùng gian nan ấy.Điển hình cho loại hoạt động này là các sự kiện: sai Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật chiêu dụ Trịnh Giác Mật thổ tù ở đạo Đà Giang (1280), bày tỏ “thần uy” bằng cách sai Nguyễn Thuyên làm “văn đuổi cá sấu” ở sông Hồng (1282), hội vương hầu và trăm quan ở Bình Than (1282), uý lạo và tha tội để sử dụng lại Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư (1282), cùng với Thượng hoàng họp phụ lão trong nước ở điện Diên Hồng để khẳng định và củng cố quyết tâm cả nước đồng lòng chống xâm lược (1284).</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Những tấm gương “người tốt việc tốt” điển hình đến mức làm rạng rỡ sử xanh cũng bộc lộ liên tiếp chính vào giai đoạn Trần Nhân Tông tại vị: những hiện tượng như quả cam và ngọn cờ của Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, chí khí lẫm liệt và gương trung nghĩa vằng vặc của Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng, lòng trung thành vô điều kiện và tài năng kiệt xuất của những người “phận dưới” đối với vận nước như Yết Kiêu – Dã Tượng, Phạm Ngũ Lão,  hành vi người người thích chữ “sát Thát” lên cánh tay, cho đến thiên tài quân sự của Hưng Đạo đại vương, mối quan hệ vua tôi đồng lòng, anh hùng gắng gỏi, miền xuôi miền ngược hô ứng nhịp nhàng làm nên những trận vận động chiến kinh điển của nghệ thuật chiến tranh, … tất cả những điều đó đều trực tiếp hay gián tiếp bộc lộ uy tín và ảnh hưởng to lớn của một nguyên thủ quốc gia siêu việt.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Có thể coi hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên &#8211; Mông vào các năm 1285, 1288 là hai giai đoạn của một cuộc đối đầu lịch sử, mốc vô cùng quan trọng định tính cho mối quan hệ giữa vương triều nhà Trần và đế chế Nguyên &#8211; Mông nói riêng, mối quan hệ giữa các triều đại ở Việt Nam với các triều đại thống trị trên vùng lục địa Trung Hoa nói chung.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">“Thế giặc nhàn” – như lời Trần Hưng Đạo tâu bày mở đầu cuộc kháng chiến năm 1288 quả đã được chúng thực qua những diễn biến đến liền ngay sau đó. Không còn hiện tượng đầu hàng giặc khá nổi cộm như trong lần kháng chiến thứ hai, không còn những “xú nhân” tham sinh uý tử, bảo mạng cầu an thò mặt vào những trang sử vàng dân tộc năm ấy. Dĩ nhiên, đám “<em>giặc Phật</em>” (là dân gian gọi thế!) nhưng đậm đặc tính tham sân si kia căm hận vua tôi nhà Trần không để đâu cho hết. Nhanh chóng “thuộc những bài học xấu” từ truyền thống của xứ sở mà chúng vừa chinh phục được, quân Nguyên cũng kéo đến phủ Thiên Trường “đào mả bố mẹ ông bà” của đối thủ. Hẳn vì thế, khu lăng mộ của các vua Trần (mà trung tâm là Chiêu Lăng – lăng Thái Tông)  và tiền nhân họ ở phủ Long Hưng (Đông Hưng – Thái Bình ngày nay. – TNV) đã bị san thành bình địa, khiến hậu nhân khó tìm khó định dạng thức và quy mô.Cũng may là chúng chưa tìm được mộ thật, nên cũng chưa phạm được tới quan tài. Dù sao, sự hoang lương ở chốn thiêng liêng ấy đã khiến ngòi bút của vị vua trẻ tuổi anh hùng bật lên những lời cảm khái nao lòng:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                        <em>Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                        Sơn hà thiên cổ điện kim âu</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                        (Xã tắc hai phen phiền ngựa đá</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                    Non sông ngàn thuở vững âu vàng)</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Hào khí Đông A, qua ba lần kháng Nguyên thành công, đã lên tới đỉnh điểm.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Nhưng khác với rất nhiều những bậc anh hùng trước đó lẫn sau này, mãi tận ngày nay thường ngợp trong hào quang của võ công, ngủ quên trên chiến thắng, thậm chí gặm nhấm ăn mòn dần chiến thắng,Trần Nhân Tông dường như coi việc thắng giặc là chuyện đương nhiên phải làm và phải làm được, nên rất điềm tĩnh đưa ra những quyết sách định quốc an dân thời hậu chiến.Một trong những việc hàng đầu phải làm, ấy là việc thưởng phạt, đưa ra những quyết định sáng suốt thời hậu chiến.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Thông thường, sự thưởng phạt sau những biến cố trọng yếu của quốc gia sẽ ngầm định bản chất của chính thể. Người có công dĩ nhiên được tưởng thưởng, nhưng hai vua (Thánh Tông, Nhân Tông) không ban thưởng tràn lan.  Kẻ hàng giặc, tất nhiên phải trừng phạt, nhưng không hề là sự trừng phạt “cho hả dạ căm thù”.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Hãy lược đọc đôi hàng chính sử: “<em>Mùa hạ, tháng tư (1289), định công dẹp giặc Nguyên.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Tiến phong Hưng Đạo Vương làm Đại Vương, Hưng Vũ Vương làm Khai quốc công, Hưng Nhượng Vương làm Tiết độ sứ. Người nào có công lớn thì được ban quốc tính.Khắc Chung được dự trong số đó, lại được nhận chức Đại hành khiển. Đỗ Hành chỉ được phong Quan nội hầu, vì khi bắt được Ô Mã Nhi không dâng lên Quan gia</em> (tức vua) <em>lại dâng lên Thượng hoàng</em> (đây có lẽ là phạt nhẹ đối với hành vi báo công vượt cấp, sai quy chế &#8211; TNV chú<em>). Hưng Trí Vương không được thăng trật, vì đã có chiếu cho người Nguyên về nước, các tướng không được cản trở , mà</em>  (Hưng Trí Vương) <em>lại còn đón đánh chúng </em>(phạt tội vô kỷ luật – TNV chú). <em>Cho Man trưởng Lạng Giang Lương Uất làm trại chủ Quy Hoá, Hà Tất Năng làm Quan phục hầu vì đã chỉ huy người Man đánh giặc.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Việc thưởng tước đã xong, vẫn có người chưa bằng lòng. Thượng hoàng dụ rằng: “Nếu các khanh biết chắc là giặcHồ không vào cướp nữa thì nói rõ cho trẫm biết, dù có thăng đến cực phẩm trẫm cũng không tiếc. Nếu không thế mà đã vội thưởng hậu, vạn nhất giặc Hồ trở lại, và các khanh lại lập công nữa thì trẫm lấy gì mà thưởng để khuyến khích thiên hạ”. Mọi người vui vẻ phục tùng</em>”.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Còn đây là việc trừng phạt: “<em>Tháng 5, trị tội những kẻ đã hàng giặc. Chỉ quân lính và dân thường được miễn tội chết, nhưng bắt chở gỗ đá, xây cung điện để chuộc tội, quan viên phạm tội (hàng giặc) thì tuỳ tội nặng nhẹ mà xét xử…..</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Xử <strong>tội đồ</strong> quân dân hai làng Ba Điểm và Bàng Hà, làm <strong>thang mộc binh</strong>, không được làm quan, ban cho tể thần làm <strong>sai sử hoành</strong>. </em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Trước kia, người Nguyên vào cướp, vương hầu, quan lại nhiều người đến doanh trại giặc xin hàng. Đến khi giặc thua, bắt được cả một hòm biểu xin hàng. Thượng hoàng sai đốt hết đi để yên lòng những kẻ phản trắc. Chỉ kẻ nào đã đầu hàng (thực sự &#8211; TNV chú) trước đây, thì dẫu bản thân ở triều đình giặc, cũng kết án vắng mặt, xử tội đi đày hoặc tử hình, tịch thu điền sản sung công, tước bỏ quốc tính. Như Trần Kiện là con của Tĩnh Quốc (</em>tức Trần Quốc Khang<em>) thì đổi làm họ Mai. Người khác cứ theo lệ ấy mà đổi, như bọn Mai Lộng, Ích Tắc (</em>em ruột vua<em> – </em>TNV chú<em>) là chỗ tình thân cốt nhục, tuy trị tội cũng thế, nhưng không nỡ đổi họ xoá tên, chỉ gọi là Ả Trần, có ý chê chúng hèn nhát như đàn bà vậy. …</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Có tên Đặng Long là cận thần của vua, rất giỏi văn học, tước đến hạ phẩm, đã được ghi chú để cất nhắc. Vua định cho làm Hàn lâm học sĩ, nhưng Thượng hoàng ngăn lại. Hắn mang dạ bất bình, đến giờ cũng hàng giặc. Giặc thua, hắn bị bắt, đem chém để răn kẻ khác.</em>”(<a title="" href="#_ftn6"><span style="color:#003366;">[6]</span></a>).</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Đối với toàn dân, thì đây là cách hành xử: “ <em>Mùa hạ, tháng Tư, đại xá thiên hạ. Những nơi bị binh lửa, cướp phá thì miễn toàn phần tô dịch, các nơi khác thì miễn giảm theo mức độ khác nhau</em>” (<a title="" href="#_ftn7"><span style="color:#003366;">[7]</span></a>).</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Sau chiến công hiển hách đến nhường ấy, những người đóng vai trò quan trọng quyết định bậc nhất có quyền bộc lộ niềm vui, niềm tự hào chính đáng. Về lại hành cung Thiên Trường, Thượng hoàng Trần Thánh Tông đã có thể tự cho phép chiêm nghiệm và cảm xúc ngay trên chính quê hương:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">                        <em>Cảnh thanh u vật diệc thanh u</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                        Thập nhất tiên châu, thử nhất châu</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                        Bách bộ sênh ca cầm bách thiệt</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                        Thiên hàng nô bộc quất thiên đầu </em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                        Nguyệt vô sự chiếu nhân vô sự</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                        Thuỷ hữu thu hàm thiên hữu thu</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                        Tứ hải dĩ thanh, trần dĩ tĩnh</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                        </em><em>Kim niên du thắng tích niên du</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                        </em><em>(Cảnh thanh u, vật cũng thanh u</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                        Mười một châu tiên, đây một châu</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                        Trăm bộ sênh ca: chim trăm lưỡi</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                        Ngàn hàng nô bộc: quýt ngàn lô</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                        Trăng vô sự chiếu người vô sự</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                        Nước vẻ thu ngậm trời vẻ thu</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                        Bốn biển đã quang, trần đã lặng</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>                        Chơi nay hơn đứt chuyến chơi xưa)</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Thượng hoàng vui, hay ít ra là vô ưu, còn Nhân Tông?</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Ngài còn tiếp tục xét kỹ trăm quan, định công hành thưởng sao cho không ai bị bỏ quên. Đặc biệt, những người xông pha tên đạn, lập được kỳ công, thì tên tuổi được chép vào <em>Trung hưng thực lục</em>, lại sai vẽ truyền thần lưu lại.Qua năm sau (1290) vua chọn văn quan xứng chức trị nhậm các lộ, rồi thân hành đi đánh Ai Lao.Cũng năm này, Thượng hoàng Thánh Tông mất.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Thực tế của ba lần chống quân Nguyên &#8211; Mông trong đó hai lần tự mình làm Tổng tư lệnh tối cao buộc nhà vua phải suy nghĩ đường xa cho sự tồn vong của đất nước. Hàng phục Ai Lao, bình định Chiêm Thành, đó là đường lối chiến lược lâu dài để tạo cho bằng được một địa bàn có thể kiểm soát và sử dụng, đặng đối phó hữu hiệu với mối đe doạ vẫn còn khổng lồ từ cái đế chế kiêu hùng ngay sát nách.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">F. Engels từng khẳng định rằng trong các xã hội có giai cấp, khi một quốc gia yếu hèn, suy nhược sớm muộn nó cũng bị xâm lược, đến mức có thể bị xoá sổ, còn khi đủ hùng cường, nó sẽ đi xâm lược, thôn tính kẻ yếu hơn. Đó là một tất yếu.Quy luật ưu thắng liệt bại không chiếu cố, thông cảm, nương nhẹ cho ai, cho bất cứ cộng đồng nào.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"> Do những biến cố phức tạp dọc tuyến biên giới, từ sau lần kháng chiến chống Nguyên &#8211; Mông lần cuối cho đến thời điểm hoàn toàn xuất gia, Trần Nhân Tông đã phải động binh với Ai Lao tới bốn, năm lần, cả khi đang làm vua cả khi đã là Thượng hoàng.Tuy nhiên chưa bao giờ các cuộc chiến đó thể hiện ra như những hoạt động hướng tới một kế hoạch thôn tính Ai Lao, mà đúng như lời Trần Nhân Tông giải thích với triều thần, mục đích chính là không thể để cho các thủ lĩnh ba vùng lãnh thổ vốn có quan hệ triều cống  với Đại Việt ảo tưởng rằng nước ta đã suy kiệt nội lực: “ <em>Sau khi giặc rút, ba cõi tất cho là lính tráng, ngựa chiến của ta đã chết cả, thế không thể lên nổi, sẽ có sự khinh nhờn từ bên trong, cho nên phải cất quân lớn để thị uy</em>”.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Những nhà nghiên cứu vô tư và khách quan sẽ không thể nói khác rằng với địa bàn sinh tồn chỉ đóng khung tới Hoan Diễn, nước Đại Việt thật khó xoay xở khi phải dụng binh đối đầu với những kẻ địch lớn, mà theo kinh nghiệm lịch sử chủ yếu đến từ phương Bắc.Các triều đại trước kia, rõ ràng nhất là nhà Tiền Lê và nhà Lý, chỉ có thể tranh thắng với Chiêm Thành bằng sức mạnh quân sự. Nhà chính trị Trần Nhân Tông không thể không quan tâm đến con đường Nam tiến vốn đã được khởi động từ các triều đại ấy, nhưng rất dụng tâm để tìm ra một (hay những) giải pháp <strong><em>khác hơn so với giải pháp cùng binh độc vũ</em></strong>. Những hoạt động nổi bật của Trần Nhân Tông kể từ thời điểm nhường ngôi làm Thượng hoàng nếu được biểu diễn thành một đồ thị, sẽ hiện rõ những khúc ghập ghềnh: những tưởng đã có thể yên bề xuất gia (trên thực tế đã làm lễ thế phát quy y ở Vũ Lâm  &#8211; Ninh Bình vào năm 1294), vậy mà tháng Tám năm đó vẫn phải “hoàn tục”, thân chinh cầm quân đi đánh Ai Lao.Trước thời điểm quyết định xuất gia trở lại (tháng Tám, Hưng Long năm thứ bảy &#8211; 1299), Thượng hoàng còn phải một phen cảnh tỉnh vua con (Anh Tông) bởi chuyện say rượu xương bồ lỏng lẻo kỷ cương cung đình.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Mang tư cách người đã xuất gia, Thượng hoàng Nhân Tông tiến hành một chuyến vân du phưong Nam, đến Chiêm Thành  và ở lại đó từ tháng 3  đến tận tháng 11 năm Tân Sửu &#8211; 1301. Trong  chuyến “du khảo” này, ngài đã hứa gả con gái mình (công chúa Huyền Trân) cho vua Chiêm là Chế Mân, đổi lại, quan trọng nhất trong các thứ của hồi môn, là Đại Việt có được hai châu Ô, Lý.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Phải sòng phẳng mà khẳng định rằng gần như “trăm phần trăm” các cuộc hôn nhân giữa con cái của các hoàng tộc với “ngoại nhân” là việc hiện thực hoá những toan tính chính trị. Cuộc hôn nhân giữa Huyền Trân với Chế Mân cũng không ngoài thông lệ ấy. Đây chính là một trong những “bài toán” mà Nhân Tông đã phải “giải cho xong” về mối quan hệ Việt &#8211; Chiêm.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Đó là một cuộc hôn nhân không dễ dàng, và lực cản lại đến từ chính những kẻ tự cho mình là đủ thẩm quyền nhất để can dự vào quốc sự trong xã hội lúc bấy giờ: các nhà nho, cả nho sĩ “bình dân” lẫn đám hiển nho có địa vị chốn quan trường.          </span></p>
<p><span style="color:#003366;">Do có chuyện <em>“ Các văn sĩ trong triều ngoài nội nhiều người mượn chuyện vua Hán đem Chiêu Quân gả cho Hung Nô làm thơ, từ bằng Quốc ngữ để châm biếm</em>” (<a title="" href="#_ftn8"><span style="color:#003366;">[8]</span></a>) nên cho mãi tới tháng 2 năm Ất Tỵ (1305) mới thấy Chế Mân sai Chế Bồ Đài “<em>và bộ đảng hơn trăm người dâng hiến vàng bạc, hương quý, vật lạ làm lễ vật cầu hôn</em>”. Chắc chắn đã có thông tin trao qua đổi lại giữa hai bên trong vòng năm năm đó, với người chủ trương, chủ động là Nhân Tông, vậy mà  tận tới lúc bấy giờ “ <em>Các quan trong triều đều cho là không nên, duy có Văn Túc Vương Đạo Tái</em> (con trai Chiêu Minh Đại Vương Trần Quang Khải, và là người gần gũi, được Thượng hoàng rất yêu mến.- TNV) <em>chủ trương bàn việc đó, Trần Khắc Chung tán thành, việc bàn mới quyết”</em>(<a title="" href="#_ftn9"><span style="color:#003366;">[9]</span></a>), rồi tới tận tháng 6 năm sau (1306) người Chiêm mới đón được dâu về. Đen đủi làm sao, chưa tới một năm, vào mùa hạ tháng 5 (1307) Chế Mân đã tạ thế.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Vĩ thanh của câu chuyện liên quan đến chính nhân vật Trần Khắc Chung vừa được đề cập. Điều chắc chắn có thể rút ra từ sự kiện này, là từ đây trở đi, mối quan hệ cũng như số phận lịch sử của hai quốc gia Đại Việt và Chiêm Thành được khởi động lên một quỹ đạo khác. Về phía Đại Việt, hai nhân vật có vai trò kiến thiết và thực thi công đoạn đầu tiên của cái quỹ đạo này là Thượng hoàng Trần Nhân Tông và Đoàn Nhữ Hài.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Từ thời điểm phục hưng quốc gia dân tộc (938) cho tới lúc bấy giờ, xét kỹ hành trạng và vai trò lịch sử, có cơ sở để khẳng định rằng Trần Nhân Tông là nhà chính trị đặc biệt xuất sắc, đầy đủ thẩm quyền vừa đại diện cho quốc gia dân tộc, vừa đại diện cho vương triều và thời đại mình một cách xứng đáng nhất.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>3.- Sống giữa nhân gian, thân gần kẻ dưới, giãi lòng qua ngọn bút thi nhân:</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Nhân Tông là đời vua thứ ba của nhà Trần, lên ngôi khi vương triều này đã kinh qua hơn nửa thế kỷ tồn tại (1225 – 1278). Vậy mà không hề quan sát thấy sự cách bức (trong trường hợp này không thể gọi là “quan liêu”, bởi nếu có sự ấy, thì đó đích thực là… “vua liêu”) giữa một đấng Thiên tử với không chỉ các “thảo dân” mà cả với những phận người “dưới đáy”.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Đã có nhiều người cho rằng nhà Trần chính lệnh giản dị bởi gốc gác của dòng họ làm nghề chài lưới, một nghề đạm bạc đương thời. Cách giải thích ấy e rằng chưa thoả đáng.Người lập ra triều đại nhà Đinh từng là con nuôi, họ Đinh là họ “đi mượn”, mà khi cai trị vẫn dụng hình hà khắc đó thôi? Nhà Tiền Lê cũng được khai cơ bởi một người không rõ cha đẻ là ai, còn mẹ là người làm thuê lưu lạc, ấy vậy mà mới đến thế hệ thứ hai đã nảy ra một Lê Ngoạ triều hành xử cường bạo đâu có kém gì lũ “hôn quân” khét tiếng ở những phương trời khác.Thái Tổ triều Lý xuất thân từ một chú tiểu, xa nữa thân phận không rõ ràng, rồi trong số “Lý triều bát đế” lại nổi lên những đấng quân vương nổi tiếng đại độ khoan nhân.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Sử gia các triều đại về sau, khi phê bình “thói giản dị” thường lấy nhà Trần ra làm “những tấm gương tày liếp”. Nền chính trị “<em>khoan giản an lạc</em>” trên tổng thể có thể định tính cho cả triều Lý lẫn triều Trần, mà triều Trần cơ hồ đậm tính chất ấy hơn cả triều Lý. Thiết tưởng, tính chất ấy cần được coi là sản phẩm của cả một quá trình vận động và ngưng kết lịch sử, xét riêng trên bình diện đời sống tinh thần, thì đó là kết quả của đường lối khoan dung mà những nhà lãnh đạo dân tộc đã sáng suốt chấp nhận và duy trì trong cả một thời gian dài.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Khi bàn về cấu trúc và diễn tiến của hệ tư tưởng ở Việt Nam cho đến đời Lý, chúng tôi đã có dịp hình dung một công đoạn của quá trình này. Xin được dẫn lại đây một vài ý tưởng:</span></p>
<p><span style="color:#003366;"> “Là một người có thể coi là thuộc về nhà chùa, Lý Công Uẩn dĩ nhiên nhận được sự trợ lực của Phật giáo đến mức tối đa. Tuy nhiên, việc nhà Lý sùng Phật, ngoài sắc thái tình cảm còn có nguyên nhân là sự chế định của hoàn cảnh.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Nhưng dường như Phật giáo khó giúp đỡ được gì nhiều cho Thái Tổ triều Lý trong việc hình dung để kiến tạo ra một nhà nước theo hướng đại thống nhất, đại tập trung và chuyên chế hoá. Trong tình thế lúc bấy giờ thì kể cả các nhà sư tham chính cũng phải chịu chấp nhận Nho giáo hoá khá rõ rệt. Nhà Lý cần Nho giáo và đã dùng đến Nho giáo trong nhiều những công việc triều chính trọng đại. Một số bình diện cụ thể:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">+ Dùng quan niệm của Nho giáo để hình dung về một nhà nước “cần phải có”, về các mối quan hệ và trật tự xã hội</span></p>
<p><span style="color:#003366;">+ Dùng Nho giáo để đào tạo và tuyển chọn quan lại, kiến lập bộ máy quan liêu cho chế độ</span></p>
<p><span style="color:#003366;">+ Dùng Nho giáo vừa như là một nền học vấn, nền giáo dục, vừa để tuyên truyền, thuyết phục dân chúng, tập hợp và hướng dẫn họ thực thi những bổn phận của thần dân.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Do chỗ ở thời điểm này, tầng lớp trí thức trong xã hội vẫn chủ yếu là các nhà sư, nên triều đình nhà Lý, kế thừa kinh nghiệm mà cũng là di sản tinh thần của các triều đại</span></p>
<p><span style="color:#003366;"> trước, tiếp tục sử dụng nhà sư làm thay rất nhiều công việc của nhà nho. Sự thay thế ấy  có thể cũng đáng được đánh giá là khá hữu hiệu, và trong thực tế thì dù sao cũng đã kéo dài sang đến giữa đời Trần.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Ngoài Phật giáo và Nho giáo, Đạo giáo thời Lý cũng tồn tại và phát triển khá tự do, và vì thế biểu hiện cũng khá phong phú. Không những thế, những tín ngưỡng mang tính bản địa hay thậm chí những tín ngưỡng khu vực do giao lưu mà có mặt (như tín ngưỡng của người Đại Lý hay của các tộc người thiểu số khác) không chỉ có đất sống  mà trong những trường hợp nhất định thậm chí còn được triều đình chập nhận, thu dùng thành những nghi lễ quốc gia.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Cũng có thể nói rằng, chỉ đến thời Lý thì diện mạo đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam nói chung, của chính thể cầm quyền nói riêng mới có được dạng thức một hệ tư tưởng. Việc dời đô có ý nghĩa biểu trưng đánh dấu một cái mốc trưởng thành của đất nước, của dân tộc nói chung , mà cũng đánh dấu sự trưởng thành của tầng lớp thống trị/ lãnh đạo dân tộc. Với nhà Lý, lịch sử quốc gia Đại Việt mở sang một trang mới, cũng có thể nói là một kỷ nguyên mới”.(<a title="" href="#_ftn10"><span style="color:#003366;">[10]</span></a>)</span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Như đã nói, trên nhiều phương diện, nhà Trần là một sự kế tục nhiều những truyền thống của nhà Lý. Để cho Tam giáo thực sự “tịnh hành”, các nhà lãnh đạo hàng đầu của mỗi “giáo” đều vừa phải lựa chọn để truyền bá vào xã hội, vào cộng đồng những gì là tinh hoa của học thuyết, vừa điều tiết để những yếu tố cực đoan hoặc quá đặc thù của mỗi “giáo” không gây thương tổn đến sự tồn tại và vận hành của các thuyết, giáo khác. Và vận mệnh của mỗi học thuyết, tương lai lịch sử của học thuyết đó từ một phía, phụ thuộc vào khả năng thích nghi đối với bản chất và định hướng phát triển của cộng đồng mà nó đang ký sinh, hơn thế, phụ thuộc vào tác động tích cực mà nó mang tới cho cộng đồng đó trong diễn trình tiếp tục của lịch sử.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Trong bản chất lý thuyết, Phật giáo không phải là một học thuyết chính trị &#8211; xã hội, những nhà lập thuyết của các tông phái Phật giáo lớn cũng không hướng trọng tâm sự chú ý của họ vào việc đưa ra những mô hình tổ chức, quản lý, điều hành xã hội.Giữa các học thuyết đã trở nên là những truyền thống tinh thần lớn của khu vực Đông Á, chỉ Nho giáo và Pháp gia từng thực sự trở thành học thuyết – ý thức hệ . Nước Đại Việt thời nhà Trần, nhất là trong và sau ba lần chống xâm lược Nguyên &#8211; Mông gia tăng một nhu cầu khách quan là phải có một nhà nước mạnh. Trần Nhân Tông lại chính là vị vua phải trực tiếp trở nên là hiện thân của nhu cầu ấy.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Không khó để chứng minh rằng Trần Nhân Tông có một vốn liếng Nho học thâm viễn và một kỹ năng tuyệt vời để hiện thực hoá những gì Ngài đã sở đắc từ học thuyết này vào sứ mệnh làm vua, trở nên một đấng minh quân (theo những tiêu chí Nho) khiến  những nhà bình luận Nho gia xét nét nhất cũng không tiếc lời ca ngợi, tôn vinh. Nhưng điểm khác biệt lớn nhất giữa nhân cách lịch sử hiện thực của Trần Nhân Tông với nhân cách lịch sử hiện thực của những đấng quân vương được lịch đại Nho lâm coi là tiêu biểu, chẳng hạn Hán Vũ Đế ở Trung Quốc hay Lê Thánh Tông  sau này ở Việt Nam, đó chính là thái độ đối với ngôi vị đế vương và việc tự định vị mình giữa chúng sinh: thật khó tìm thấy ở đâu khác, thời nào khác một đấng minh quân đích thực lại không hề mảy may đặc biệt hoá thân phận mình, “thiên chức” mình như thế!</span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Ngôi vua trong quan niệm Nho giáo chính thống vốn thuộc phạm trù “cái đơn nhất”. Các học thuyết chính trị &#8211; xã hội ra đời trong vùng văn hoá  Đông Á truyền thống muốn được ứng dụng luôn luôn phải tìm cách tự bổ sung, điều chỉnh hoặc lai ghép để đáp ứng đòi hỏi của các vị đế vương: giải thích hay biện chính một cách hữu hiệu cho địa vị cơ  hồ tiên quyết của họ. Nho giáo và phái Pháp trị tuy là những đối thủ, những kẻ tử thù chính trị của nhau, nhưng có điểm giống nhau quan trọng là cùng tuyệt đối hoá ngôi vua chuyên chế, đều coi sự hiện hữu của nó không chỉ là đương nhiên mà còn là “bất khả tư nghị”.Chính việc sùng bái vô điều kiện đối với ngôi vua như thế cũng đã góp phần tích cực củng cố thêm tính chất chuyên chế của nó lẫn tính chất chuyên chế của toàn bộ thiết chế chính trị được thiết định xung quanh nó.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">            Trần Nhân Tông lúc ở ngôi vua lẫn lúc làm Thượng hoàng đã tiến hành nhiều hoạt động tích cực và hữu hiệu để củng cố tính chất tôn nghiêm của ngôi vua, nhưng lại rất chăm chú coi sóc để địa vị đó không bị thần thánh hoá. Cung cách làm vua như thế này không dễ bắt gặp:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Câu chuyện thứ nhất: “ <em>Nhâm Thìn, Trùng Hưng năm thứ 8 (1292)… Lấy Phí Mạnh làm An phủ sứ Diễn Châu, giữ chức chưa được bao lâu, có tiếng đồn là tham ô, vua triệu về, đánh trượng, lại sai đi trấn trị. Sau (Phí Mạnh) được tiếng là công bằng, thanh liêm. Người Diễn Châu vì thế có câu rằng: “Diễn Châu An phủ thanh như thuỷ”(An phủ Diễn Châu trong tựa nước)</em>”.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Câu chuyện thứ hai: “<em>Vua dụ ty Hành khiển giao hảo với viện Hàn lâm.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Lệ cũ, mỗi khi tuyên đọc lời vua, thì viện Hàn lâm lĩnh đưa bản thảo tờ chiếu cho Hành khiển để giảng tập trước</em> (Vì chức Hành khiển cho tới lúc bấy giờ thường dùng hoạn quan, mà nhiều người trong số họ lại kém chữ nghĩa. – TNV chú).<em> Đến khi tuyên đọc, thì giảng cả âm nghĩa cho dân thường dễ hiểu….Bấy giờ</em> (hoạn quan<em>) Lê Tòng Giáo làm Tả phụ, vốn bất hoà với Hàn lâm phụng chỉ Đinh Củng Viên. Ngày tuyên đọc lời vua</em> <em>đã đến rồi mà Củng Viên vẫn cố ý không đưa bản thảo. Tòng Giáo đòi nhiều lần vẫn không được.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Hôm ấy, xa giá sắp ra ngoài cung, Củng Viên mới đưa bản thảo. Tòng Giáo tuyên đọc tờ chiếu đại xá, không hiểu âm nghĩa, phải im lặng. Vua gọi Củng Viên đứng đằng sau, nhắc bảo âm nghĩa. Tòng Giáo rất thẹn. Tiếng nhắc của Củng Viên to dần, mà tiếng đọc của Tòng Giáo lại nhỏ đi, trong triều chỉ còn nghe thấy tiếng của Củng Viên thôi.Vua về trong cung, gọi Tòng Giáo dụ bảo:  “Củng Viên là sĩ nhân, ngươi là trung quan</em> (tức hoạn quan- TNV) <em>sao lại bất hoà đến thế. Ngươi là lưu thủ Thiên Trường, dùng con rươi quả quýt đi lại, đưa tặng lẫn nhau thì có việc gì?”. </em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Từ đó, Tòng Giáo và Củng Viên giao hảo với nhau gắn bó.”.(<a title="" href="#_ftn11"><span style="color:#003366;"><strong>[11]</strong></span></a>)</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Đọc Quốc sử đến chỗ này, Tự Đức phải hạ bút tán thưởng “ <em>Ông vua này có</em> <em>thể gọi là thiên tử hoà giải</em>”.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Câu chuyện thứ ba: <em>“Mỗi khi nhà vua ra chơi đâu, trông thấy gia đồng các vương hầu ở ngoài đường tất gọi rõ tên và hỏi “Chủ mi làm gì?”. Nhà vua thường răn bảo vệ sĩ không được quát mắng gia đồng; lại bảo với các hầu cận rằng: “Ngày thường thì bao nhiêu người hầu hạ xung quanh, đến khi nước nhà gặp hoạn nạn, thì chỉ thấy có bọn ấy thôi.”. Câu nói ấy có ý cảm động công lao gia đồng đã theo hầu khó nhọc trong khi mình đi lánh nạn”</em>. (<a title="" href="#_ftn12"><span style="color:#003366;">[12]</span></a>)</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Về chuyện này, thì Tự Đức lại bình luận:“<em>Như thế cũng không đúng</em>”. Dễ hiểu : Tự Đức là một ông vua có ý thức đặc thù hoá cực độ  vị trí của mình.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Câu chuyện thứ tư: Dùng Phùng Sĩ Chu làm Hành khiển<em>.” Lúc quân Nguyên sang xâm lược, nhà vua sai Sĩ Chu bói, Sĩ Chu gieo quẻ rồi đoán rằng: “Chắc chắn đại thắng”. Nhà vua nói: “Nếu quả như lời, sẽ có trọng thưởng”. Nay quân Nguyên đã rút lui, nhà vua nói: “ Thiên tử không nói bỡn”, vì thế mói có lệnh này”.</em>(<a title="" href="#_ftn13"><span style="color:#003366;">[13]</span></a>).</span></p>
<p><span style="color:#003366;">“Quân bất hồ ngôn”. Câu này thường gặp trong hầu khắp những phim cổ trang của Trung Quốc ngày nay, đặt làm “câu cửa miệng” của mọi ông vua muốn được coi là người tiêu biểu cho việc giữ gìn chữ “tín”.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Ở một mức độ khá quán xuyến, con đường tư tưởng của Trần Nhân Tông là “dĩ Nho nhập Thích”. Hành trình này trong lịch sử tư tưởng Việt Nam bắt đầu từ giữa thời Lý nhưng vết tích không thật rõ nét, đến Trần Nhân Tông thì đã rất điển hình, nối tiếp qua vài thế hệ đến Vãn Trần, rồi được tái xuất hiện trong Phật giáo sử các thế kỷ sau, đậm nét trở lại qua hành trạng của Ngô Thời Nhậm. Bài Tán về Thiền Tuệ Trung thượng sĩ trong trước tác của Trần Nhân Tông là chứng cớ tiêu biểu nhất cho “lối vào” ấy. Nếu thay 4 từ cuối bài bằng “<em>Phu tử chi đạo</em>” thì ta có hầu như nguyên văn một câu trong <em>Luận ngữ</em>, ghi lại lời của học trò Khổng Tử xưng tụng đạo (Nho) của thầy mình.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Trong số hơn 30 bài thơ của Trần Nhân Tông còn lại đến nay, nhìn từ góc độ cảm hứng nghệ thuật, có thể sử dụng cách phân nhóm như đối với thi tập của bất cứ nhà nho thành đạt nào đó khác: cũng có nhóm thơ cảm hoài, tức sự,  mạn hứng, nhóm chiếm tỷ lệ lớn nhất là thơ vịnh cảnh, vịnh vật, thơ sơn thuỷ &#8211; điền viên, thơ thù tạc, chỉ vài ba bài khởi lên trực tiếp từ cảm hứng tôn giáo.Thảng hoặc, cũng có thể nhìn ra những thi đề, thi liệu, thi ảnh quen thuộc, kiểu “mai xông tuyết”, “mây thương cẩu”, “rượu tiêu sầu” &#8211; dấu vết của những ngày tháng “tập làm văn” với các vị sư phó Nho giả. Dĩ nhiên, có thể nói rằng những nhận xét vừa đưa ra chỉ phù hợp, chỉ đúng với “những gì còn sót lại”. Nhưng cũng với “những gì còn sót lại” ấy, có thể ghi nhận rằng trong thơ của Trần Nhân Tông không có những bài “thi ngôn chí”, cũng không có những bài “thơ khẩu chiếm, thơ khẩu khí” rất đặc trưng cho những người tự đặt mình (hoang tưởng hay hiện thực) cách biệt khỏi mọi “thần dân”, coi mình là đấng “bề trên tự nhiên”.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Không có “thơ nói chí”, bởi lẽ đối với người trong cuộc, khó tìm ra điều gì thuộc về miền “mộng ước chưa (không) thành”!Không làm “thơ khẩu khí”, vì những gì đã làm được trong cuộc đời của Người còn cần gì “khẩu khí” để vẽ vời thêm? Nhưng  sự điềm đạm giãi bày trong phần lớn những bài thơ của Người lại khiến người đọc dễ dàng cộng cảm và hoà dòng xúc động.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>4.- Điều Ngự Giác Hoàng – Trúc Lâm đệ nhất Tổ:Hành giả hay một nhà Phật học?</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Theo chỗ tôi tìm hiểu, trong toàn bộ khu vực Đông Á truyền thống, ở các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Cao Ly &#8211; Triều Tiên vào các thời điểm khác nhau đều có những vị vua thân thiện, khoan dung với Phật giáo, có nhiều vị sùng Phật, trở thành Phật tử, nhưng không thấy ai từ địa vị của một bậc đế vương trở thành một giáo chủ, thành người sáng lập và dẫn dắt hẳn một tông phái như Trần Nhân Tông ở Việt Nam.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Cứ như những gì thể hội được qua hai bài ca, phú quốc âm (<em>Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca</em> và <em>Cư trần lạc đạo phú</em>)  thì Trần Nhân Tông là một trong những hành giả mà phần lớn thời gian hành thiền lại ở ngoài chốn Thiền môn, theo nghĩa đen, nghĩa hẹp, nghĩa là ngoài khuôn viên nhà chùa.Nếp áo Tiểu thừa trên thạch tượng của Ngài cho phép nói đến một lượng thời gian lớn mà Ngài đã bỏ ra để tu tập và trì giới trong những trạng thái không thông tục như ở mọi tu hành gia “chuyên nghiệp” nào đó khác.  Điều này hoàn toàn có thể kiểm chứng và giải thích bởi cho đến trước thời điểm viên tịch không lâu, Ngài vẫn còn tiếp tục xử lý quốc sự.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Khai mở ra một tông phái hay một dòng tu, trong bất cứ tôn giáo nào, trước hết là công quả của các bậc hành giả. Nhà tu hành và học giả nghiên cứu, khám phá bí mật của những phưong thức tu hành, khám phá những nội dung mang tính “lý thuyết và kiến giải” về một tôn giáo hay tín ngưỡng, đó là hai nhân vị khác nhau, không nhất thiết phải “tồn tại trong nhau”, và từ hệ quy chiếu &#8211; quan sát bên ngoài, không nói được bằng ngôn ngữ so sánh địa vị, tầm quan trọng của họ với nhau.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Nhưng cũng từ kinh nghiệm của lịch sử tôn giáo thế giới, có thể khẳng định rằng một khi kết hợp, nhất thể hoá thành công con người hành giả và con người lý thuyết gia, tông phái hay dòng tu do một bậc tập đại thành như thế lập nên sẽ có sức hấp dẫn lớn và có sức sống bền vững hơn những tông phái hay dòng tu khác không có được người sáng lập đạt tới vị thế ấy.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Thật khó khăn sau ngần ấy năm tháng và biến cố, nhưng tôi vẫn hy vọng rằng đâu đó vẫn còn có thể tìm thấy được thêm những bằng chứng để khẳng định tư thế “Phật học gia” của Đức Đại Đầu Đà, bởi cái mà sử bút Nho gia định danh là “tinh anh thánh nhân” chắc chắn đã phải được kết tinh vào những trước thuật có quy mô không nhỏ.Sẽ là một điều đại hạnh, nếu lời nhận định của Nguyễn Lang <em>“Trúc Lâm là một nhà lãnh đạo giáo hội hơn là một tư tưởng gia”</em>(<a title="" href="#_ftn14"><span style="color:#003366;">[14]</span></a>) một ngày nào đó trở nên lỗi thời.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>Đôi lời thưa rốt</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Từ di thể của Giác Hoàng Điều Ngự sau khi được Bảo Sát hoả thiêu, thu về hơn 3000 <em>xá lỵ</em> và một bình tro. <em>Xá lỵ</em> thuộc cõi thiêng, sẽ được dùng trong những dịp lễ trọng rồi cất ở bảo tháp, tro cốt làm nốt những “thủ tục cuối cùng” của cuộc hoàn nguyên, sẽ được triều đình đưa về bản quán.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Gần hai năm sau ngày Giác Hoàng viên tịch, triều đình mới xây dựng xong lăng Quy Đức ở Long Hưng. Lễ rước linh cữu Ngài đã được đinh kỳ, bố cáo cho toàn dân đều biết. Vậy là theo truyền thống (hay thói?) giản dị cố hữu, vào ngày đã định ấy, dân chúng đông đảo kéo vào “xem đám”, đông đến mức không làm sao có lối để tiếp dẫn linh cữu ra bến thuỷ hành. Nội quan Trịnh Trọng Tử bèn phải dùng đến một mẹo vặt, vờ công bố hoãn việc hiếu, bày ra vài sự hỷ: sai vài nhóm quân túc vệ và người biết hát xướng trong cung chia điểm diễn trò. Chờ “đám hiếu” mãi chẳng xảy ra, lại có chỗ vui tai thích mắt, những người nhẹ dạ hồn nhiên lũ lượt kéo đi xem “đám hát”. Vậy là có không gian cho triều đình “tranh thủ” cử hành việc muốn làm. Sử thần Ngô Sĩ Liên lẫn Hoàng đế nhà Nguyễn sau này đều lấy thế làm kỳ, chê rằng: “<em>Triều đình cốt phải nghiêm. Rước đưa linh cữu thì cần gì phải đến tể tướng dẹp người, hữu ti dùng kế mới đi được ? Ấy bởi nhà Trần về khoan hậu thì có thừa mà về nghiêm khắc thì không đủ</em>”.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Xem ra lời chê cũng hàm cả ý khen. Bởi nếu không phải là không có ai, thì ít ra cũng là rất hiếm hoi những vị hoàng đế có thể “dùng” được ngay chính đám tang của mình  làm cơ hội cho người đời xích lại gần nhau, xoá bỏ cách bức về thân phận như thế.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Còn có điều gì tốt đẹp ở đời mà vị anh hùng dân tộc, nhà cầm quyền minh triết nhân từ, vị đại giác ngộ điềm tĩnh và người trong cõi thế không biết nhuốm bụi trần ấy chưa kịp làm không nhỉ?</span></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><em>Hội thảo khoa học kỷ niệm 750 năm Phật Hoàng Trần Nhân Tông</em></p>
<p><strong>                   Hà Nội – Yên Tử tháng Mạnh Đông Mậu Tý 2008</strong></p>
<div>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<div>
<p>([1] ) <em>Đại Việt sử ký toàn thư, t.2, </em>Bản in Nội các quan bản, Nxb Văn hoá thông tin, H. 2000, tr.64.</p>
</div>
<div>
<p>([2]) Quốc sử quán triều Nguyễn.-  <em>Khâm định Việt sử thông giám cương mục</em>. Nxb Giáo dục H., 1998 (gồm 2 tập) t.1,tr..486.</p>
</div>
<div>
<p>([3]) <em>Đại Việt sử ký toàn thư</em>. Sđd. t.2, tr.65.</p>
</div>
<div>
<p>([4]) Có lẽ do không tính đến bối cảnh này, mà trong công trình về Trần Nhân Tông của mình, Tiến sĩ Lê Mạnh Thát đã phải dày công biện luận về “sự nhầm tên”  các vua Trần của <em>Nguyên sử</em> khi chép các sự kiện về “An Nam” vào thời điểm bấy giờ.</p>
</div>
<div>
<p>([5]) Dẫn theo  Hà Văn Tấn &#8211; Phạm Thị Tâm.- <em>Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII.</em> In lần thứ tư. Nxb KHXH, H., 1975. tr. 111.</p>
</div>
<div>
<p>([6]) <em>Đại Việt sử ký toàn thư.</em> Sđd, tr.95 – 97.</p>
</div>
<div>
<p>([7]) Sđd. tr. 92.</p>
</div>
<div>
<p>([8]) <em>Đại Việt sử ký toàn thư</em>, Sđd, tr. 136</p>
</div>
<div>
<p>([9] ) Sđd. tr.135.</p>
</div>
<div>
<p>([10]) Xin xem toàn văn bài viết trong :Viện Việt Nam học và các khoa học phát triển .- <em>Hai mươi năm Việt Nam học theo định hướng liên ngành </em>. Kỷ yếu Hội thảo khoa học . NxbThế giới , 2008. Bài cũng có trong sách này.</p>
</div>
<div>
<p>([11]) <em>Đại Việt sử ký toàn thư</em>. Sđd, tr. 92</p>
</div>
<div>
<p>([12]) <em>Khâm định Việt sử thông giám cương mục</em>. Sđd, tr. 540</p>
</div>
<div>
<p>([13]) <em>Khâm định Việt sử thông giám cương mục</em>.Sđd. tr.541.</p>
</div>
<div>
<p>([14] ) Nguyễn Lang. <em>Việt Nam Phật giáo sử luận</em>. t,1, Nxb Văn học, H., 1992, tr.369.</p>
<p>&#8211;</p>
<p>* Về tác giả bản tham luận:  + <a title="Permanent link to 733. Gặp gỡ đầu xuân Nhâm Thìn 2012: phát biểu của PGS-TS Trần Ngọc Vương" href="http://anhbasam.wordpress.com/2012/02/16/732-gap-go-dau-xuan-nham-thin-2012-phat-bieu-cua-pgs-ts-tran-ngoc-vuong/" rel="bookmark" target="_blank">733. Gặp gỡ đầu xuân Nhâm Thìn 2012: phát biểu của PGS-TS Trần Ngọc Vương</a>;  <em> + </em><em></em><a title="PGS.TS TRẦN NGỌC VƯƠNG" href="http://ussh.vnu.edu.vn/pgs-ts-tran-ngoc-vuong/567" target="_blank">PGS.TS TRẦN NGỌC VƯƠNG </a>(Đại học KHXHNV);   + <a title="Hiện hữu giữa cõi trần chỉ 51 năm, trong đó 23 năm đầu đời đã phải dành cho việc tạo lập thân danh, 14 năm giữa đời trải qua trong chốn tù ngục, ông chỉ còn lại trên dưới 15 năm để kịp làm được gì đó thì làm." href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=13841&amp;rb=0306" target="_blank">Phép hành chỉ của Ngô Ðức Kế giữa một thời mưa Âu gió Á </a>(talawas, 26/7/2008); + <a title="Bản thảo bài viết sau đây được hoàn thành vào cuối năm 1979, ngay sau sự kiện Trung Quốc tiến hành cuộc chiến tranh biên giới chống Việt Nam và lúc tôi mới 24 tuổi. Bài viết được thực hiện trước hết như là một sự tự lý giải, một cố gắng để khách quan và rốt ráo trong việc truy cứu đến cùng lý do đích thực cho câu hỏi: Ngoài sự o bế đối với Khmer Đỏ, Trung Quốc còn có lý do và lý lẽ gì khi tiến hành cuộc chiến chống Việt Nam? Lời giải đáp, theo tôi, chỉ có thể tìm thấy từ một cái nhìn bao quát toàn bộ lịch sử của đế chế Trung Hoa. Không định viết bài &quot;chống bành trướng&quot; theo thời vụ chính trị, nhưng trong không khí sục sôi lúc bấy giờ, tôi cho rằng nếu công bố được thì tốt. Tôi đã đưa bài viết cho ông Phạm Như Cương, lúc đó là Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội kiêm Viện trưởng Viện Triết học. Tạp chí Triết học là tờ tạp chí của Viện đó, đồng thời cũng là xuất bản phẩm chính thức chuyên về triết học duy nhất ở Việt Nam lúc bấy giờ. Bài viết được &quot;đọc duyệt&quot; hơi lâu, vì thế mãi đến số 4/1980 mới được công bố. Tôi không còn bản gốc, vì hồi đó không có tiền đánh máy, chưa có photocopy ở Việt Nam... nhưng theo tôi thì bài viết có bị cắt bớt, chừng 1/3, chủ yếu liên quan đến những kiến giải từ góc độ lịch sử tư tưởng, lịch sử chính trị. Dù sao thì những ý tưởng cơ bản còn được giữ lại hầu như đầy đủ, cho nên tôi vẫn cảm thấy được in ra là một thắng lợi cá nhân." href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=11803&amp;rb=0302" target="_blank">Chủ nghĩa duy tâm của một quan niệm về lãnh thổ </a>(talawas, 21/12/2007);  + <a title="Khi thực hiện chuyên đề này, chúng tôi đã có dịp được trò chuyện với Phó Giáo sư, NGƯT Trần Ngọc Vương, người vừa vinh dự được Nhà nước trao tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú, ghi nhận những đóng góp của ông cho nền giáo dục nước nhà." href="http://phapluattp.vn/2010122605012997p0c1019/pgs-ngut-tran-ngoc-vuong-dao-thay-tro-da-co-nhung-thay-doi-can-ban.htm" target="_blank">PGS, NGƯT Trần Ngọc Vương: Đạo thầy trò đã có những thay đổi căn bản </a>(PLTP);  + <a title="Không dám xúc phạm tới ai cả, nhưng nói thực, thời trẻ, với không ít điều tai nghe mắt thấy trong 6 năm du học ở Liên Xô (về chuyên ngành vô tuyến điện quân sự), tôi đã luôn ngạc nhiên khi thấy có một số nghiên cứu sinh ta mang sang nước bạn bảo vệ những luận án tiến sĩ, phó tiến sĩ khoa học xã hội nhân văn với những chủ đề rất thuần túy Việt Nam, rất đặc thù Việt Nam. " href="http://antgct.cand.com.vn/vi-vn/nhanvat/2011/12/55633.cand" target="_blank">PGS-TS Trần Ngọc Vương: Thượng phải chính! </a>(ANTG); + <a title="Là người đã nhiều năm nghiên cứu về văn hoá Việt Nam, PGS.TS Trần Ngọc Vương có những lý giải rất sâu sắc về sự  khủng hoảng các giá trị văn hoá, đạo đức cũng như thẳng thắn đưa ra những nguyên nhân của thực trạng này. " href="http://www.baomoi.com/Home/GiaoDuc/bee.net.vn/PGSTS-Tran-Ngoc-Vuong-Lam-quan-roi-la-khong-them-hoc/7121534.epi" target="_blank">PGS.TS Trần Ngọc Vương: Làm quan rồi là không “thèm” học </a>(Bee).</p>
</div>
</div>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/vietsuky.wordpress.com/1809/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/vietsuky.wordpress.com/1809/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/vietsuky.wordpress.com/1809/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/vietsuky.wordpress.com/1809/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/vietsuky.wordpress.com/1809/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/vietsuky.wordpress.com/1809/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/vietsuky.wordpress.com/1809/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/vietsuky.wordpress.com/1809/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/vietsuky.wordpress.com/1809/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/vietsuky.wordpress.com/1809/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/vietsuky.wordpress.com/1809/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/vietsuky.wordpress.com/1809/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/vietsuky.wordpress.com/1809/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/vietsuky.wordpress.com/1809/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vietsuky.wordpress.com&amp;blog=29420608&amp;post=1809&amp;subd=vietsuky&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/19/71-tran-nhan-tong-nhieu-trong-mot/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>7</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/c3f46a060a458b1967070ec26d4dd571?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">vietsuky</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>70. ĐẶNG TIỂU BÌNH SỬ DỤNG CHIẾN TRANH TRUNG-VIỆT ĐỂ CỦNG CỐ ĐỊA VỊ</title>
		<link>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/16/dang-tieu-binh-su-dung-chien-tranh-trung-viet-de-cung-co-dia-vi/</link>
		<comments>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/16/dang-tieu-binh-su-dung-chien-tranh-trung-viet-de-cung-co-dia-vi/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 15 Feb 2012 17:10:19 +0000</pubDate>
		<dc:creator>vietsuky</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sử liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Trao đổi]]></category>
		<category><![CDATA[Campuchia]]></category>
		<category><![CDATA[Mao-Trạch-Đông]]></category>
		<category><![CDATA[Đảng Cộng sản Trung Quốc]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vietsuky.wordpress.com/?p=1530</guid>
		<description><![CDATA[ĐẶNG TIỂU BÌNH SỬ DỤNG CHIẾN TRANH TRUNG-VIỆT ĐỂ CỦNG CỐ ĐỊA VỊ THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM Tài liệu tham khảo đặc biệt Thứ Năm, ngày 22-7-2010 Tuần san châu Á số từ 11-18/7/2010 đăng bài của Giang Tấn về những ân oán trong quan hệ Trung-Việt. Theo Giang Tấn, cuộc chiến tranh biên [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vietsuky.wordpress.com&amp;blog=29420608&amp;post=1530&amp;subd=vietsuky&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div>
<div>
<h1><span style="color:#003366;">ĐẶNG TIỂU BÌNH SỬ DỤNG</span></h1>
<h1><span style="color:#003366;">CHIẾN TRANH TRUNG-VIỆT</span></h1>
<h1><span style="color:#003366;">ĐỂ CỦNG CỐ ĐỊA VỊ</span></h1>
<p><strong>THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM</strong></p>
<p><strong>Tài liệu tham khảo đặc biệt</strong></p>
<p>Thứ Năm, ngày 22-7-2010</p>
<p><em> Tuần san châu Á số từ 11-18/7/2010 đăng bài của Giang Tấn về những ân oán trong quan hệ Trung-Việt. Theo Giang Tấn, cuộc chiến tranh biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam năm 1979 chủ yếu là do một mình Đặng Tiểu Bình quyết định nhằm củng cố địa vị của mình.</em></p>
<p><em><span id="more-1530"></span><br />
</em></p>
<p><span style="color:#003366;">Dẫn lời ông Nghê Sáng Huy, một người từng trải qua những năm tháng chiến tranh Trung-Việt, tác giả cuốn “Mười năm chiến tranh Trung-Việt” vừa được Nhà xuất bản Thiên Hành Kiện (Hồng Công) ấn hành vào đầu tháng 6/2010, Giang Tấn cho biết vào năm 1977, Đảng Cộng sản Trung Quốc triệu tập Hội nghị Trung ương 3 khóa X, khôi phục các chức vụ lãnh đạo cho Đặng Tiểu Bình, gồm Phó Chủ tịch nước, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương và Tổng Tham mưu trưởng quân đội. Một năm sau đó, Đặng Tiểu Bình lại được bầu làm Chủ tịch Chính hiệp Toàn quốc. Cách mạng Văn hóa vừa kết thúc, Đặng Tiểu Bình muốn trước tiên phải lập lại trật tự, thúc đẩy đường lối tư tưởng, nên đưa ra trọng điểm công tác cho cả nước là chuyển dịch sang xây dựng kinh tế. Tuy nhiên, khi đó ở Trung Quốc, tư tưởng tả khuynh trong, ngoài đảng và ở quần chúng vẫn tiếp tục “trượt” theo quán tính. Đặc biệt là nhóm trong Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc do Hoa Quốc Phong cầm đầu vẫn chủ trương tiếp tục duy trì lý luận và thực tiễn của Cách mạng Văn hóa thêm một thời gian. Trong quân đội Trung Quốc cũng có không ít cán bộ cao cấp tỏ ra không thông với chính sách và đường lối của Đặng Tiểu Bình. Chính vì thế, Đặng Tiểu Bình thấy rằng muốn phá vỡ cục diện này, phải tiến hành cải cách mở cửa. Nhưng nếu chỉ dựa vào chức vụ của Đặng Tiểu Bình khi đó thì khó có thể xoay chuyển được tình thế, mà phải cần đến một phương thức có thể quét sạch được mọi chướng ngại của thế lực cực tả đối với cải cách mở cửa.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Theo ông Nghê, nếu như khi đó đưa ra những đánh giá lịch sử về Mao Trạch Đông, phủ định đường lối “hai phàm là” của Hoa Quốc Phong (Phàm là quyết sách Mao Chủ tịch đưa ra, chúng ta phải kiên quyết bảo vệ; Phàm là chỉ thị của Mao Chủ tịch, chúng ta đều phải tuân thủ trước sau như một – P/v TTXVN), thời cơ vẫn chưa chín muồi. Do đó, Đặng Tiểu Bình quyết định lợi dụng chức vụ Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương kiêm Tổng Tham mưu trưởng và sự tín nhiệm của phái nguyên lão trong quân đội đối với mình để tìm kiến sự đột phá từ quân đội. Đặng Tiểu Bình cho rằng cần thiết phải phát động một cuộc chiến tranh chống lại “kẻ xâm lược”, thông qua chiến tranh để chuyển hướng đấu tranh trong nước, tái cố kết sự đoàn kết dân tộc của người dân. Đặng Tiểu Bình cũng muốn nhân cơ hội sau chiến tranh tiến hành điều chỉnh nhân sự trong quân đội. Quả nhiên, sau chiến tranh Trung-Việt, Đặng Tiểu Bình đã làm một cuộc “thay máu” đối với quân đội, đưa một loạt cán bộ trẻ, cán bộ trung niên vào vị trí lãnh đạo. Có thể nói, tiến hành chiến tranh là con đường nhanh nhất giúp Đặng Tiểu Bình xác lập quyền uy tuyệt đối trong Đảng Cộng sản và quân đội Trung Quốc, đẩy mạnh thực hiện kế hoạch cải cách mở cửa.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Ông Nghê cho rằng Trung Quốc đánh Việt Nam là do Việt Nam đưa quân vào Campuchia và Trung Quốc ủng hộ Campuchia chống lại Việt Nam. Ban đầu, Trung Quốc gọi đây là “phản kích tự vệ” sau đó lại đổi thành “đánh trả”. Cuộc chiến tranh biên giới Trung-Việt, theo ông Nghê, tuy đã khiến Việt Nam rút một phần quân khỏi Campuchia, phá vỡ thế bao vây chiến lược của Liên Xô đối với Trung Quốc, làm rõ quân bài chiến lược của Mỹ và Liên Xô, rèn luyện quân đội, nhưng kết quả đạt được rất hạn chế: Không lấy được đất đai của Việt Nam, cũng không lật đổ được chính quyền Việt Nam (nguyên văn là “tập đoàn thống trị Lê Duẩn”). Và mặc dù các mục đích mà Quân ủy Trung ương Trung Quốc đề ra cơ bản đạt được, nhưng nếu xét về lợi ích chỉnh thể của quốc gia, cái hại vẫn lớn hơn cái lợi. Tại sao vậy? Ông Nghê cho rằng trước tiên là cuộc chiến tranh Trung-Việt đã được các nước phương Tây do Mỹ đứng đầu lấy làm cái cớ để cô lập Trung Quốc. Hai là, việc Trung Quốc xuất binh tấn công Việt Nam đã làm kinh động các nước Đông Nam Á. Ba là, cắt đứt quan hệ giữa Trung Quốc với thế giới thứ ba, khiến Bắc Kinh rơi vào thế cô lập. Bốn là, Trung Quốc mất đi uy tín trong xử lý quan hệ cấp quốc gia. Năm là, chiến tranh Trung-Việt gây tổn thất nặng nề về mặt kinh tế cả cho Việt Nam lẫn Trung Quốc.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Khi nói về trình tự tiến hành chiến tranh, ông Nghê cho biết một cuộc chiến tranh tất yếu phải đi theo những trình tự do pháp luật quy định. Trước đây, quan niệm pháp trị của người Trung Quốc không cao và nó được biểu hiện trong một số cuộc chiến tranh lớn. Ví dụ: Chiến tranh Triều Tiên chủ yếu do một mình Mao Trạch Đông quyết định, Chiến tranh Trung-Việt chủ yếu do một mình Đặng Tiểu Bình quyết định. Một người hoặc một vài người vội vàng quyết định tiến hành chiến tranh, theo ông Nghê, khó có thể tránh khỏi việc quyết định đó mang màu sắc tình cảm phiến diện, chủ quan của cá nhân, rất dễ phạm phải sai lầm mang tính lịch sử và hậu quả cũng vô cùng đáng sợ.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Ông Nghê cho biết chiến tranh Trung-Việt không những không được Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc (Quốc hội) thảo luận thông qua, mà cũng không được Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn. Theo ông Nghê, chiến tranh phải công khai với nhân dân, cho phép nhân dân bày tỏ thái độ của mình. Nhân dân vốn là chủ nhân của đất nước, nên có quyền được biết tình hình, có quyền được bày tỏ thái độ. Việc nhân dân có thể bày tỏ thái độ một cách tự do đối với một cuộc chiến tranh cũng có lợi cho việc ngăn ngừa một số cá nhân nào đó đi ngược lại ý nguyện của đại đa số nhân dân, phát động chiến tranh./.</span></p>
<p>&#8211;</p>
<p>Bài đã được đưa lên trang Ba Sàm từ 29/7/2010, nhưng do bị tin tặc phá, xóa mất, nay đưa lên lại.</p>
<p>&#8211;</p>
<h2>Hồi Tưởng Về 30 Năm Trước: Cuộc Chiến Tranh Biên Giới Việt-trung</h2>
<div>(03/07/2009) (Xem: 4099)</div>
<p>Hồi Tưởng Về 30 Năm Trước: Cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung<br />
<strong>Bùi Tín</strong><br />
30 năm đã qua. Năm nay, Bộ chính trị Hà nội qua ban tuyên huấn trung ương lệnh cho bộ máy truyền thông &#8211; báo, đài, vô tuyến truyền hình &#8211; không được nói gì đến cuộc chiến tranh biên giới Việt &#8211; Trung. Trong khi đó Trung quốc để cho truyền thông của họ ở vùng Hoa Nam được viết bài kỷ niệm , tưởng nhớ những &#8220;anh hùng&#8221;(!) đã xả thân 30 năm trước.<br />
Nhưng lịch sử là lịch sử. Làm sao xoá bỏ lịch sử với biết bao dấu tích; làm sao xoá bỏ được sự tưởng niệm của nhân dân đối với hơn 40 ngàn liệt sỹ &#8211; quân nhân và đồng bào các dân tộc &#8211; đã nằm xuống trên giải đất biên cương những ngày đầu Xuân ấy.<br />
Xin ghi lại vài hồi tưởng cá nhân của tôi về những ngày sôi động xưa.<br />
Những ngày ấy tôi ở đâu. Tôi ở Pnom Pênh, một thành phố chết bắt đầu hồi sinh. Cùng một đơn vị Quân khu IX từ Châu đốc qua Takeo, chúng tôi một nhóm báo chí quân sự 6 người đến sân bay Pochentông / PnomPênh sáng 7-1-1979. Cả thủ đô vắng lặng. Tiếng súng lẻ loi của vài ổ đề kháng tuyệt vọng. Cỏ lút đầu người. 30 vạn dân thủ đô đã bị đuổi hết về nông thôn từ tháng 4-1975 khi quân Khme Đỏ vào. Phố không tên, nhà không số, đường không người, cuộc sống nông thôn không tiền nong, không chợ búa, không trường học, dân không giấy tuỳ thân, không dày dép, không gia đình, ngủ tập thể chia theo trai, gái, đội lao động.<br />
Sứ quán Tàu rộng lớn nhất thủ đô, tài liệu vừa bị thiêu huỷ, còn một đống tro giữa đại sảnh trang hoàng một tranh hoành tráng ghi bài thơ Mao Trạch Đông : &#8220;vầng Thái dương trên châu Á&#8221;. Vẫn còn sót tài liệu chỉ rõ 2 hôm trước, chỉ có 5 sứ quán : Bắc Hàn, Lào, Nam tư, Rumani và Trung quốc. Người TQ mới đây có gần 8 ngàn người rải khắp nước, cố vấn quân sự đông nhất, chuyên gia thuỷ lợi, lâm nghiệp, Tân Hoa xã, có 3 ngàn quân thuộc đơn vị công binh vừa xây xong sân bay cực lớn, đường băng dài 3 ngàn mét ở Cong Pong Chnang.  Các đoàn khách lớn đến gần đây là 3 đoàn quân sự, một đoàn do Tổng tham mưu trưởng Quân Giải phóng Trung quốc cầm đầu, 2 đoàn cấp cao nhà nước Tàu do Phó Tổng lý (Thủ tướng) Trần Vĩnh Quý và bà Đặng Dĩnh Siêu cầm đầu. Họ bỏ chạy hết sạch từ 5 ngày nay sang Thái lan, nhưng vết tích còn đầy ra đó.<br />
Từ đó dễ hiểu rằng Tàu tất nhiên sẽ trả thù ta ở miền Bắc. Quả nhiên, đầu năm 1979, Đặng Tiểu Bình sang Mỹ, gặp Carter, huênh hoang báo sẽ cho &#8220;Việt nam Tiểu bá&#8221; một bài học, dám đi theo Đại bá (Liên xô) ăn hiếp nước nhỏ Cambốt, con nuôi của TQ.<br />
Có người hỏi: ta có bị bất ngờ không.  Tôi nhớ lại, có thể nói vừa có, vừa không. Có, vì tình hình biên giới đã căng, rất căng từ giữa  năm 1978, khi TQ rút hết mọi chuyên gia, ngưng mọi viện trợ, căng thêm sau khi VN ký Hiệp ước hữu nghị tương trợ với Liên xô vào tháng 11. Cả tuyến biên giới đã báo động đỏ, việc đào hầm hố, công sự, huấn luyện, bổ sung quân số đạn dược được thúc đẩy khẩn trương. Nhưng vẫn bất ngờ, không biết ngày nào chúng khởi sự, và có dám khởi sự hay không vì VN đã gắn chặt với Nga Xô.<br />
Cũng do đó mà hơn 2 quân đoàn bảo vệ miền Bắc vẫn được đưa vào chiến trường Cam bốt; biên giới phía Bắc chỉ có toàn là chủ lực các Quân Khu, lực lượng tham chiến những ngày đầu chủ yếu là bộ đội địa phương 6 tỉnh và 26 huyện biên giới, cùng với bộ đội biên phòng (có hơn 20 tiểu đoàn) và một mạng lưới dân quân khá rộng và dày. Đây là một nét khá đặc sắc, vì từ xa xưa dân miền núi vốn có nếp tự trang bị súng từ thô sơ đến hiện đại để chống thú rừng, săn thú ăn thịt, bảo vệ nương rẫy. Các Quân khu đã phát hàng vạn súng tốt rất rộng rãi cho dân quân các dân tộc Tày, Mường, Mèo, Thái&#8230; từ mấy tháng trước.<br />
Ngày cuộc chiến nổ ra (17-2-1979), tôi đang ở Pnom Pênh, theo dõi sự kiện Đoàn cấp cao Việt nam sang dự lễ mừng chiến thắng, do thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu. Sáng hôm ấy sỹ quan Việt nam tập họp trong đại sảnh đại sứ quán Trung quốc cũ để nghe ông Đồng nói chuyện. Ông Đồng đang nói thì tôi thấy tướng Văn Tiến Dũng &#8211; bộ trưởng Quốc phòng, đưa lên một mảnh giấy, sau đó ông Đồng thông báo đêm qua TQ đã tiến công trên khắp tuyến biên giới 6 tỉnh. Trưa đó tôi nghe ông Đồng và ông Dũng bàn với nhau: không thay đổi chương trình, vẫn giữ đúng kế hoạch, đi thăm Battambang, XiêmRiep, sáng 20 về Hànội. Trong những ngày ấy, cứ cách từ 2 đến 3 giờ, lại có mật điện của tướng Lê Trọng Tấn và tướng Hoàng Văn Thái báo cáo về tình hình chiến đấu ở biên giới.<br />
Giới báo chí có mặt ở Pnom Pênh náo nức hỏi đường về Sài gòn ngay để trở ra Hànội rồi lao lên biên giới săn tin. Hai bạn thân của tôi là anh Takano, phóng viên Acahata Nhật bản và phóng viên chụp ảnh Pháp Jean Claude Labbé nhanh nhẩu nhất. Thật đáng tiếc thương là Takano lên Lạng sơn chạm trán quân Tàu trưa ngày 27-2 và bị chúng bắn chết ngay gần cầu Lạng sơn. Anh luôn đeo kính cận, nói và viết tiếng Việt khá sõi, tốt nghiệp khoa Văn trường đại học tổng hợp Hànội.<br />
Gặp tù binh Trung quốc ở sân vận động Thái nguyên. 2-3-1979, nhóm phóng viên báo QĐND chúng tôi lên Thái nguyên để gặp một số tù binh TQ. Trên đường lên Lạng sơn và Thái nguyên, từng đoàn dân quân, thanh niên, sinh viên của Hà nội, Hà đông, Sơn tây vai khoác balô cùng xẻng cuốc nô nức đổ lên phía Bắc đào và dựng phòng tuyến chặn bọn xâm lược tiến về thủ đô. Tuần trước đài Nam Ninh/Quảng Tây huênh hoang đe doạ và huênh hoang : Quân Giải Phóng quyết tiến công chớp nhoáng,&#8221;sáng sớm ở Lạng sơn, ăn cơm trưa tại Hànội&#8221;(!).<br />
Sau hơn 10 ngày chiến đấu, ta đã bắt được hơn 100 trăm tù binh. Có những tên đại đội trưởng, đại đội phó, chính trị viên đại đội, đảng viên cộng sản.<br />
Hai ngày đêm ở Thái nguyên, tôi hỏi chuyện được hơn 60 tên tù binh đủ loại, phần lớn thuộc quân khu Quảng châu do tướng Hứa Thế Hữu chỉ huy. Một số bị thương nhẹ, đã được phía ta chăm sóc.<br />
Sân vận động Thái nguyên khá rộng, đủ chỗ cho hơn 80 tên ở trong hơn 20 phòng nhỏ, vốn là nơi tập luyện bóng chuyền, bóng rổ, võ thuật, nơi hội họp, nghỉ ngơi của vân động viên, nay được ngăn lại.  Ở đây việc canh gác chúng được thuận lợi, chúng được tiêu chuẩn ăn như bộ đội ta, với bánh bao làm từ bột mỳ.<br />
Chỉ hỏi chuyện mươi tên, có thể thấy ngay cái ngây ngô của chúng, không hiểu đánh Việt nam để làm gì, vì sao mà xuất quân. Chúng hiểu lơ mơ là Việt nam không tốt, không biết ơn Trung quốc; chúng mong chiến tranh kết thúc vì trên dặn : &#8220;đây chỉ là cuộc xuất quân hạn chế trong thời gian, trong không gian&#8221;.  Chúng chỉ chuẩn bị được có hơn 10 ngày là đi, hành quân xuống phương Nam, nghỉ chân 5 hôm là khởi sự.<br />
Chúng sợ ngay từ khi nhập đất Việt vì phải dò mìn, vì lạ địa hình, không am hiểu gì ở phía trước. Chúng luôn bị bất ngờ, bị mìn, bị phục kích, bị bắn tỉa giữa rừng, khi dừng chân bên suối. Chúng hoang mang vì khi ở căn cứ chúng được giải thích sẽ có hàng trăm máy bay đủ loại mở đường, che chở, yểm trợ nhưng chẳng thấy một chiếc nào xuất hiện.<br />
Một tên lái xe tăng loại trung bình Bát-Nhất bị lật nhào bởi mìn, chân phải bị gãy phải nẹp và đi nạng, than vãn là xe tăng không thích hợp với địa hình rừng, đường độc đạo, lắm khe suối, không triển khai được đội hình, thường chỉ đi hàng dọc, dễ làm mồi cho bazôka đáng sợ!<br />
Khí hậu rừng nhiệt đới ẩm, mưa nhỏ đã làm nhão đất thành bùn, hầm hố khó đào cũng thành vấn đề khi chúng phải ngủ giữa rừng. Rồi việc ăn, ngủ, vệ sinh, tắm rửa trên đất địch, lạ lẫm, vắng lặng, đầy cạm bẫy thật không dẽ chịu chút nào.  Một hai tên bị bắn chết hay bị thương là thường mất luôn một tiểu đội, phải cáng về phía sau với 2, 3 tên áp tải.<br />
Một viên đại đội phó than vãn, anh ta ra trận, mẹ đang ốm, vợ mới sanh con gái được 2 tháng, quê ở tận Tứ xuyên, từ quân khu Thành Đô xuống tăng cường cho quân khu Quảng Châu, không lòng dạ nào đi xa vào nơi nguy hiểm; luôn buồn bã, ỉu xìu, luôn mồm xin thuốc lá; kể lể mới vào trận có mươi hôm mà đứa nào cũng gầy xọm, sức yếu hẳn, nỗi lo sợ căng thẳng khôn nguôi, còn tăng thêm hằng ngày khi thấy &#8220;hoả lực các ông&#8221; tăng rõ, &#8220;chạm trán các ông&#8221; và bị pháo kích, phục kích nhiều hơn, quyết liệt hơn &#8230;Mỗi ngày qua là cảm thấy thêm không có ngày về. Anh ta còn kiêm chức bí thư chi đoàn thanh niên cộng sản, cảm tình đảng,- khi bị bắt còn trong túi áo cuốn Mao tuyển nhỏ bìa nylon đỏ chót. Anh ta không hề dở Mao tuyển ra, cũng không sinh hoạt chi đoàn, vì không biết nói gì với quân lính.<br />
Thật rõ ràng, trong cuộc tấn công xâm lược này, thiên thời, địa lợi, nhân hoà đều bất lợi cho quân Tàu.<br />
Cũng không ngờ, Quân Giải phóng Tàu trình độ văn hoá rất tệ, trong 60 tên tôi gặp, không có một người nào tốt nghiệp trung học, không một người nào biết Bắc kinh ra sao, chữ Hán tất cả đều nguệc ngoạc như gà bới, chỉ có 3 người võ vẽ biết tiếng Anh kiểu vỡ lòng, đọc vài chữ tiếng Anh theo giọng Hồ Nam, kể cả viên đại đội phó và trung đội trưởng lái xe tăng. Quân giải phóng hiện đại hoá năm 1979 mà chậm tiến như vậy đó.<br />
Tận cùng man rợ :<br />
Chúng tôi lên Lạng Sơn ngày 8-3 khi được tin Bắc kinh vừa ra lệnh rút quân gấp. Cầu gãy. Sông Kỳ Cùng thuyền đồng bào đã nối nhau trở về cặp bến. Khói còn bốc lên từ nhiều đám cháy, lửa vừa được dập tắt; nhà ga đổ nát, tường sập từng mảng. Đường sắt đứt từng đoạn, cong queo. Chúng phá bằng mìn loại cực mạnh. 60 toa tầu và 2 đầu máy cũ tan tành. Các cơ quan hành chính đều bị phá sập. Giây điện bị cắt nát. Cửa hàng mậu dịch bị đốt cháy, cho đến trường trung học, vườn trẻ bên cơ quan hội phụ nữ, nhà mẫu giáo đều đổ nát không thể ở được. Chúng đốt cháy gần hết thư viện lớn.<br />
Những đồng bào đầu tiên trở về nhà đều buồn rầu đau xót trước cảnh tang thương đổ nát. Xưởng dệt thủ công thổ cẩm đặc sản Lạng sơn bị chúng phá sạch banh, không còn một chiếc máy nguyên vẹn; xí nghiệp khâu cũng vậy. Một kiểu phá hoại triệt để, có hệ thống theo nghiêm lệnh, để triệt đường sinh hoạt lâu dài của người dân. Những chiếc thuyền gỗ bị đâm thủng, ván bị xẻ ra từng mảng nằm dọc bờ sông với lưới lớn nát bấy như bị băm nhỏ.<br />
Vào nhà dân khá giả gần khu chợ, tủ lim, bộ ghế salông cổ mặt đá bị đập nát, gương vỡ tan, mâm đồng bị đâm thủng, nồi to nồi bé bằng đồng, nhôm, sành, đất không còn một chiếc nào còn dùng được; cho đến chiếc xe nôi cho em bé cũng bị chặt gục xuống bên cống.<br />
Không thể nào tưởng tượng một đội quân chính quy của một đảng cộng sản lớn, tự nhận là &#8220;vĩ đại&#8221;lại có thể hành xử tàn bạo, độc ác, mang bản chất phá hoại phi nhân đến vậy.  Quân Tàu Tưởng, quân phát xít Nhật, quân thực dân Pháp đều qua đây, nay là quân Trung Cộng; và kỷ lục về giết dân thường, về tàn phá tràn lan, triệt để, thâm hiểm là thuộc về bọn lính Trung Cộng này đây.<br />
Những điều được trông thấy đã đủ để kinh hoàng. Còn những nơi tôi không được thấy, được ống kính xưởng phim quân đội ghi lại còn khủng khiếp gấp vạn lần. Đó là ở Bát Xát Lào Cai, một bà người Mông bị cả một tiểu đội 9 tên đưa vào hang đá thay nhau hãm hiếp rồi đâm chết trước mặt con trai bà bị trói chặt ở gốc cây khế ngoài cửa hang. Anh giả chết khi chúng bắn vào vai anh trước khi cùng nhau tháo chạy, anh vừa khóc vừa kể. Ở thôn Tông, huyện Hoà An Cao bằng, chúng bị phục kích chết hơn chục tên, chúng uống rượu rồi tàn sát bằng dao, báng súng cả một xóm 43 người, có 21 phụ nữ và 20 em nhỏ, trong số phụ nữ có 7 người mang thai. Gần đó  chúng giết người rồi ném 5 xác xuống giếng.<br />
Bộ mặt thú vật ấy của cái gọi là Quân giải phóng Trung Hoa làm sao có thể rửa sạch, phải được lưu truyền trong lịch sử loài người. Sao có thể cấm bà con ta ở 6 tỉnh biên giới không được tưởng niệm người thân đã oan khuất và cấm gia đình nạn nhân và đồng bào nguyền rủa quân sát nhân khốn nạn cùng quan thầy của bọn chúng!<br />
Một mũi tên xuyên 5 con chim &#8220;<br />
Sau 30 năm, nhìn lại cuộc chiến Việt &#8211; Trung vùng biên giới, với những tư liệu từ mọi phía được thu thập, có thể thấy Đặng Tiểu Bình thật thâm hiểm đến tột đỉnh.<br />
Nói thật gọn, đây là một viên đạn nhằm bắn xuyên đến 5 con chim. 5 mục tiêu chiến lược ấy là :<br />
- phạt Việt, khoe Mỹ, đe Xô,  cứu Pôt, &#8211; và cuối cùng là nhằm hiện đại hoá 3 quân &#8211; Hải,  Lục , Không quân Trung quốc.<br />
- phạt Việt : đòn trừng phạt không doạ nổi dân ta, chúng bị trừng phạt nặng;  Bắc kinh thú nhận &#8211; dưới xa sự thật, chết 6 ngàn tên, bị thương 21 ngàn, cộng là 27.000 thương vong trong số 23 vạn tên nhập Việt . Ngay phía sau là 22 vạn tên hỗ trợ, hậu cần và dự bị trên đất Tàu. Các quân đoàn chủ lực VN chưa vào trận, số lớn còn  ở Cambốt. Nhóm lãnh đạo CS khiếp sợ và bị kẻ thù khuất phục cho đến nay vẫn còn sởn.<br />
- khoe Mỹ : Đặng gặp Carter tháng 1-1979, báo trước sẽ đánh VN, Carter ngầm tán thành, thực tế là khuyến khích, ủng hộ bằng giữ bao vây, phong toả, cô lập VN; để bọn Pốt ở Liên Hợp Quốc.<br />
-đe Xô: Liên Xô bất động, tuy có Hiệp ước đồng minh tương trợ Xô &#8211; Việt tháng 11- 1978.<br />
-cứu Pốt : Đặng đã tạm cứu được bọn Khme Đỏ trong hơn 10 năm. Sau khi rút quân khỏi phía Bắc, Đặng tập trung sức vào yểm trợ bọn Pốt ở biên giới Thái lan &#8211; Cambốt, dùng cả giải đất Đông Nam Thái lan thành đất thánh cho quân Pốt, vận chuyển hàng triệu tấn vũ khí, trang bị, bom mìn, quân trang quân dụng, mở 12 doanh trại tuyển quân, luyện quân, 2 trường đào tạo sỹ quan, gài cố vấn Tàu vào 21 sư đoàn khơme đỏ (nâng từ 16 sư năm1978), chúng càng đánh càng đông, mạnh, thiện chiến hơn, làm cho quân VN sa lầy, hao quân (chết hơn 50 ngàn, bị thương hơn 20 vạn/ 10 năm), cuối cùng phải rút hết.<br />
- hiện đại hoá 3 quân ( đặc biệt là tên lửa tầm trung và tầm xa, tàu ngầm nguyên tử, máy tính hoá quân đội). Chính việc kỷ luật, cảnh cáo tướng Hứa Thế Hữu chỉ huy cánh trái tập đoàn quân nhập Việt vì để thương vong quá cao, và vị tướng này kiểm điểm nêu hết nhược điểm lạc hậu, cổ lỗ, vũ khí quá cũ ( không dám dùng không quân, tên lửa lạc hậu 2 thế hệ, lệnh xung phong cho bộ binh bằng kèn(!) , 500 lính chết oan vì lựu đạn điếc, nổ sớm, súng cối vỡ nòng, đi lạc trong rừng, tự sát &#8230;Giữa năm 1979 Đặng phác hoạ chương trình hiện đại hoá quân đội gấp, tăng gấp 3 ngân sách quốc phòng, luôn lấy thất bại ở VN làm nỗi nhục dân tộc nước lớn&#8230;Chương trình táo tợn ấy nêu rõ cả đóng Hàng không mẫu hạm, một số tàu ngầm nguyên tử, một loạt tên lửa thế hệ mới, cơ giới hoá hàng quân đoàn hoàn chỉnh, bao gồm cả chinh phục vũ trụ với hàng loạt vệ tinh mới.<br />
Theo di huấn của Đặng, Giang Trạch Dân, rồi đến  Hồ Cẩm Đào hiện nay đều đặt ưu tiên cho hiện đại hoá quốc phòng, được phát động mạnh mẽ sau nỗi &#8220;nhục&#8221;  2 tuần lễ 1 tập đoàn quân chính quy bị giáng trả bởi những lực lượng địa phương trên đất Việt, đúng 30 năm trước.<br />
Bùi Tín  4-3-2009.</p>
<p>http://www.vietbao.com/D_1-2_2-282_4-156445/</p>
</div>
</div>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/vietsuky.wordpress.com/1530/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/vietsuky.wordpress.com/1530/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/vietsuky.wordpress.com/1530/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/vietsuky.wordpress.com/1530/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/vietsuky.wordpress.com/1530/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/vietsuky.wordpress.com/1530/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/vietsuky.wordpress.com/1530/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/vietsuky.wordpress.com/1530/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/vietsuky.wordpress.com/1530/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/vietsuky.wordpress.com/1530/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/vietsuky.wordpress.com/1530/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/vietsuky.wordpress.com/1530/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/vietsuky.wordpress.com/1530/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/vietsuky.wordpress.com/1530/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vietsuky.wordpress.com&amp;blog=29420608&amp;post=1530&amp;subd=vietsuky&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/16/dang-tieu-binh-su-dung-chien-tranh-trung-viet-de-cung-co-dia-vi/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>6</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/c3f46a060a458b1967070ec26d4dd571?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">vietsuky</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>69. QUAN ĐIỂM LỊCH SỬ VỀ CÔNG ĐOÀN Ở CÁC NƯỚC XHCN QUA KHẢO SÁT VN và TQ</title>
		<link>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/13/67-quan-diem-lich-su-ve-cong-doan-o-cac-nuoc-xhcn-qua-khao-sat-vn-va-tq/</link>
		<comments>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/13/67-quan-diem-lich-su-ve-cong-doan-o-cac-nuoc-xhcn-qua-khao-sat-vn-va-tq/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 13 Feb 2012 14:00:46 +0000</pubDate>
		<dc:creator>vietsuky</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sử liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Trao đổi]]></category>
		<category><![CDATA[Luật Hợp đồng lao động]]></category>
		<category><![CDATA[Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[WTO]]></category>
		<category><![CDATA[Đài Loan]]></category>
		<category><![CDATA[Đông Á]]></category>
		<category><![CDATA[đảng cộng sản]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vietsuky.wordpress.com/?p=1620</guid>
		<description><![CDATA[QUAN ĐIỂM LỊCH SỬ VỀ CÔNG ĐOÀN Ở CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA QUA KHẢO SÁT VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC Lý Hân Nho * Ứng cử viên TS – Khoa Chính trị Đại học Đài Loan (Đài Loan có qui định sau khi học xong các chuyên đề (gồm 36 tín chỉ) theo [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vietsuky.wordpress.com&amp;blog=29420608&amp;post=1620&amp;subd=vietsuky&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div>
<h1><span style="color:#003366;"><strong>QUAN ĐIỂM LỊCH SỬ VỀ CÔNG ĐOÀN </strong></span></h1>
<h1><span style="color:#003366;"><strong>Ở CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA</strong></span></h1>
<h1><span style="color:#003366;"><strong>QUA KHẢO SÁT VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC </strong></span></h1>
<p><strong>Lý Hân Nho *</strong></p>
<p>Ứng cử viên TS – Khoa Chính trị Đại học Đài Loan</p>
<p><em>(Đài Loan có qui định sau khi học xong các chuyên đề (gồm 36 tín chỉ) theo qui định và thi các chuyên đề đạt 75/100 điểm trở lên (nếu dưới 75 điểm phải học và thi lại). Sau đó, các NCS.TS phải qua kỳ thi tư cách (đạt 65/100 điểm trở lên là đạt) mới được phép viết và bảo vệ luận án TS. Ứng cử viên TS là NCS. TS đã đạt kết quả trong kỳ thi tư cách). </em></p>
<p><span id="more-1620"></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>1. Đặt vấn đề </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Trung Quốc và Việt Nam là hai quốc gia có sự tăng trưởng kinh tế tương đối nhanh trong giai đoạn hiện nay. Bắt đầu từ năm 1978 Trung Quốc tiến hành chính sách cải cách mở cửa, nền kinh tế tập trung xã hội chủ nghĩa chuyển dần sang nền kinh tế thị trường. Hai quốc gia này đã không ngừng thu hút vốn đầu thu nước ngoài để phát triển nền kinh tế. Năm 1986, Việt Nam, đã tiến hành đổi mới, học tập theo sách lược của Trung Quốc, áp dụng chính sách cải cách mở cửa, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phát triển nền kinh tế trong nước. Hai quốc gia ngày càng tiếp cận với quĩ đạo của thế giới và vào những năm 2001 và 2006 lần lượt là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO. Nguồn vốn đầu tư của Đài Loan vào TQ và VN luôn là một trong những bộ phận quan trọng của tổng số vốn đầu tư nước ngoài vào hai quốc gia này. Theo căn cứ vào thống kê của Bộ Thương vụ Trung Quốc năm 2002 số vốn đầu tư của Đài Loan vào Trung Quốc chiếm 7,39 % tổng số vốn nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Trung Quốc; Năm 2004 chiếm 5,14%, năm 2005 chiếm 3,51%; năm 2006 và 2007 là 9,05% và 8,71% (1) . Vốn đầu tư của Đài Loan vào Việt Nam còn quan trọng hơn, năm 2004 tổng số vốn đầu tư của Đài Loan là 453,000,000 USD chiếm 20.39% tổng số vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp vào Việt Nam. Theo số liệu thống kê từ năm 1988 đến năm 2004 số vốn đầu tư của Đài Loan vào Việt Nam chiếm 15.86% tổng số vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Việt Nam. Như vậy, Đài Loan đã trở thành nhà đầu tư lớn thứ hai ở Việt Nam. (2)Từ năm 2006 theo thống kê số vốn đầu tư vào Việt Nam chiếm 13.62% trên tổng số vốn nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam, Đài Loan đã giành ngôi vị thứ nhất trong các quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam ((3)</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Rất nhiều quốc gia trong đó có Đài Loan, do lực lượng lao động tập trung, nên sản xuất tại bản quốc không đạt hiệu quả, vì vậy họ đã đến các quốc gia có nhân công rẻ, giá thành đất cát, cơ sở hạ tầng thấp để đầu tư. Theo đà phát triển của kinh tế toàn cầu hóa, để thu hút vốn đầu từ từ nước ngoài, các quốc gia đã áp dụng chế độ lao động và quản lý mềm dẻo, đặc biệt là các quốc gia có trình độ phát triển thấp kém lại càng hay áp dụng biện pháp hạ công lao động để thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Có học giả đã gọi sự cạnh tranh này là “xuống cõi trầm luân”, trong những quốc gia này bao gồm cả Trung Quốc và Việt Nam (những quốc gia đang cố gắng chuyển sang nền kinh tế thị trường)(4).</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Mặc dù thể chế chính trị của Trung Quốc và Việt Nam là những nước xã hội chủ nghĩa, vẫn kiên trì dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, nhưng sau khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, hai quốc gia đã ra sức thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Sự chuyển mình của kinh tế Việt Nam muộn hơn so với Trung Quốc, nhưng do thể chế chính trị và chính sách cải cách kinh tế gần giống nhau, nên có thể suy luận rằng kinh tế Việt Nam đã thể học hỏi nhiều kinh nghiệm từ cải cách của Trung Quốc, ví dụ như: thân thiện với các nhà đầu tư nước ngoài; giảm bớt sự bảo hộ đối với người lao động, chờ đến khi kinh tế phát triển đến một trình độ nhất định rồi mới tăng cường trở lại bảo hộ người lao động. Cần khằng thêm rằng, đầu tư của Đài Loan vào Việt Nam còn quan trọng hơn Trung Quốc, tức là từ lý luận có thể nói những xí nghiệp của Đài Loan ở Việt Nam sẽ phải được nhiều “thẻ bài” hơn ở Trung Quốc, chính phủ Việt Nam phải đưa ra nhiều điều kiện lao động và áp dụng những điều kiện đầu tư rộng rãi hơn Trung Quốc. Nhưng cho đến tận bây giờ, có nhiều văn kiện đã nói trên thực tế Việt Nam rất coi trọng lợi ích của người lao động và cố ý tạo điều kiện cho người lao động một không gian để phát ngôn hơn Trung Quốc. Sự khác biệt của Trung Quốc và Việt Nam đã gây nên được chú ý của rất nhiều học giả, có những chuyên gia đã đưa ra những ví dụ như: chế độ hộ khẩu, chế độ ký túc xá và vai trò của nhân tố công đoàn… để giải thích rằng có thể do kinh tế Việt Nam còn đang ở giai đoạn tương đối lạc hậu so với Trung Quốc, nên đưa ra biện pháp bảo hộ công nhân mạnh hơn Trung Quốc. Sự ảnh hưởng mạnh hay yếu của công đoàn đối vói người lao động được coi là nhân tố khác biệt thu hút được nhiều sự chú ý của các học giả nhất. (5) Đương nhiên, những văn kiện này mặc dù có thể quan sát theo góc độ kinh nghiệm. Nhưng trên thực tế hy vọng của hai chính phủ với sự tuân thủ hợp đồng xã hội với người lao động không giống nhau, đồng thời nếu đem qui nạp vào năng lực của công đoàn thì cũng có sự khác biệt. Vấn đề đặt ra ở đây là tại sao Trung Quốc và Việt Nam cùng là những nước xã hội chủ nghĩa nhưng tổ chức công đoàn của hai nước này lại có sự khác biệt như vậy? Chính vì lý do đó tác giả của bài nghiên cứu này hy vọng sẽ là bổ xung cho những những thiếu sót trên.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>2. Nội dung chính </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Đứng ở góc độ nhà nước và quốc gia để xem xét, những quốc gia có sự lãnh đạo là Đảng cộng sản thì được coi là một trong những quốc gia có hình thức chủ nghĩa nghiệp đoàn (Corporatism). Trong bài viết này tác giả cũng lấy quan điểm này để phân tích các văn kiện của Trung Quốc.(6) Theo đà của cải cách mở cửa, các tài liệu, văn kiện của Việt Nam ngày càng nhiều và đã có nhiều học giả căn cứ vào mô hình trên để phân tích các văn kiện của Việt Nam.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Ngoài quan điểm mô hình quốc gia có hình thức chủ nghĩa nghiệp đoàn theo kinh nghiệm của phương Tây, còn có quan điểm nữa đó là căn cứ trực tiếp vào nhà nước mang đặc sắc xã hội chủ nghĩa để định nghĩa chủ nghĩa nghiệp đoàn. Cho rằng trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, chính phủ chủ động sáng tạo ra chế độ, đại biểu cho lợi ích trực tiếp của chính phủ và thông qua hình thức “Xâm chiếm và chiến thắng” pre-empt để tiến vào không gian của các giai cấp khác nhau trong xã hội đa nguyên hoặc sự liên kết khác nhau được hình thành từ lợi ích của các bộ môn khác. Cho nên ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, quan hệ giữa nhà nước và các tổ chức nghiệp đoàn (corporate groups) là hệ thống lãnh đạo trực tiếp. (8) Những tổ chức nghiệp đoàn này lại là cầu nối giữa nhà nước và đại biểu cho lợi ích của cơ quan hay giai cấp đó. Dưới cơ chế hoạt động đó, các tổ chức nghiệp đoàn không được phép có một liên hệ ngang nào khác, tức là thậm trí trong nội bộ đoàn thể có thể tồn tại những lợi ích đối nhau thì cũng coi như không nhìn thấy, thậm trí hoàn toàn bị phủ nhận.(9)</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Với quan điểm nổi tiếng của Lê nin, tổ chức công đoàn trong các nước xã hội chủ nghĩa vẫn là một kiểu chi tiết chuyển động. Theo cách nhìn của ông thì công đoàn là để hỗ trợ đảng, là bộ phận chuyển động để liên hệ giữa nhà nước và quần chúng. Cho nên, ở những quốc gia đảng cộng sản, công đoàn đóng vai trò truyền bá cho cả hai bên, tức là: Một mặt công đoàn là cơ quan hành chính, truyền đạt ý chí của đảng và nhà nước cho công nhân; Mặt khác công đoàn đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân truyền đạt ý nguyện của giai cấp công nhân cho cấp trên. Do vậy, đây là tính lưỡng nguyên cổ điển của công đoàn (classical dualism). Nhưng trên thực tế kết quả của quá trình vận hành này là thông qua hệ thống các cán bộ, tất cả tổ chức xã hội đều được đưa vào hệ thống quản lý có hiệu quả của thể chế nhà nước đảng cộng sản. Như vậy, về mặt lý luận công đoàn đóng vai trò tuyên truyền cho hai bên, nhưng thực chất chỉ có tác dụng đơn: là đại biểu cho nhà nước đảng cộng sản, căn cứ vào lợi ích quốc gia mà đảng đã định ra để tổ chức và quản lý người lao động. Nhìn từ góc độ của Trung Quốc, khi mới thành lập chính quyền thì tổ chức công đoàn không ít thì nhiều cũng có vai trò nhất định, cùng với sự phát triển của các phong trào chính trị do ĐCS Trung Quốc phát động, đã nhanh chóng tăng cường sự khống chế của nhà nước đối với xã hội. Trong nhà nước ĐCS cơ chế tổng hòa giữa công đoàn và công nhân dần dần bị suy yếu. (10)</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Nhưng tình hình ở Việt Nam có chút khác biệt. Mặc dù thời kỳ đầu mới thành lập cũng giống như Trung Quốc, vai trò của công đoàn cũng rất mờ nhạt. Từ sau khi thực hiện chính sách đổi mới, vẫn dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, nhưng Việt Nam lại xây dựng được một chế độ bảo hộ người lao động rất tốt và cũng tạo điều điện cho công đoàn có nhiều quyền lợi hơn. Sự khác biệt này đương nhiên không thể căn cứ vào lý luận về thể chế nhà nước ĐCS là có thể giải thích được.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Nhưng vấn đề đặt ra là tại sao cùng là những quốc gia do đảng cộng sản lãnh đạo ở Đông Á, nhưng tại sao quyền hạn của công đoàn Trung Quốc và Việt Nam lại có những khác biệt như vậy? Nếu như bỏ qua mạch tư duy của các nước ĐCS, thì cũng có một câu hỏi được đặt ra: tại sao cùng là những nước đang tiến hành cải cách mở cửa, cùng là những quốc gia đang thu hút vốn đầu tư của nước ngoài, nhưng Việt Nam lại đưa ra những điều kiện bảo hộ tương đối tốt cho người lao động và rất nhiều các công ty đầu tư nước ngoài đều nhận thấy người lao động Việt Nam không dễ quản lý, thậm trí họ còn hoài nghi và cho rằng đằng sau những cuộc bãi công của công nhân có sự ủng hộ của chính phủ Việt Nam.? Có thể là trong quá trình phát động cải cách mở cửa, chính phủ Trung Quốc đã không hề do dự phá vỡ lời hứa với người lao động. Nhưng chính phủ Việt Nam lại cho rằng chính phủ dứt khoát phải có trách nhiệm duy trì hợp đồng xã hội với giai cấp công nhân? (12) Đây chính là nội dung chính của bài viết này.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Nhìn lại quá trình phát triển của của công đoàn của Trung Quốc, chúng ta đã thấy 5 lần xung đột sâu sắc giữa công đoàn và đảng đều xảy ra trong những lần đấu tranh chính trị cấp cao trong ĐCS Trung Quốc. Thời gian đó công đoàn mong muốn có được nhiều quyền tự chủ hơn, nhưng khi cuộc chiến quyền lực giữa Thanh-Anh kết thúc, tính tự chủ của công đoàn lập tức bị đảng chấn áp, công đoàn lập tức thể hiện ngay thái độ thuần phục đảng. Khi chúng ta dùng quan điểm của “Chủ nghĩa quyền lực phân lập” (fragmented authoritarianism) có thể cho thấy công đoàn trở thành chiến trường cho cuộc đấu tranh về quyền lực chính trị giữa Thanh-Anh, tức là cán bộ công đoàn phải thuần phục và vây xung quanh đường đối, tư tưởng tương đồng với các cán bộ đảng cao cấp. Sự khống chế của thể chế đảng không thay đổi, quyền lực chủ đạo của nhà nước với xã hội không đổi, nhưng nếu như kết quả đấu tranh quyền lực trong đảng là phái phản đối công đoàn tự chủ thắng, thì công đoàn sẽ bị sự trấn áp một cách không thương tiếc, giống như nhiều lần chỉnh đốn chính trị vào thời Mao Trạch Đông đối với công đoàn Trung Quốc. Nhưng nếu như kết quả đấu tranh quyền lực trong đảng là sự cân bằng quyền lực lâu dài, thì công đoàn sẽ có một không gian hoạt động tự chủ lớn hơn, giống như ở Việt Nam dưới cơ chế lãnh đạo “xe ngựa có ba đầu kéo” (15) thì công đoàn sẽ đạt được không gian tương đối lớn trong khoảng thời gian tương đối lâu dài.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Nhưng, nếu như đứng ở góc độ cuộc đấu tranh quyền lực ở các cơ quan cao cấp để nghiên cứu nguồn gốc sự khác biệt về quyền hạn công đoàn giữa Việt Nam và Trung Quốc, tác giả nhận thấy nhất định phải nghiên cứu trong khảng thời gian dài, phải từ góc độ, nguồn gốc để tìm được lý do chân thực. Như vậy, lý do nghiên cứu tương đối rõ ràng, tình hình tổng thể của cuộc đấu tranh quyền lực ở cấp cao của hai quốc gia và quá trình cách mạng của hai quốc gia có quan hệ chặt chẽ với nhau. Địa vị quốc tế của hai nước trên trường quốc tế vào lúc đó đã gây nên sự khác biệt của quá trình cách mạng của hai nước Việt Trung. Vì lý do đó, tác giả sẽ vận dụng khái niệm về chế độ luận, để lập một cơ cấu giải thích của từng giai đoạn chế độ lịch sử. Ví dụ như chúng ta coi quyền lực của công đoàn là một loại chế độ, tức là chế độ này bắt đầu được xây dựng cơ sở từ trước khi chính quyền của ĐCS Việt Nam và Trung Quốc được thành lập. Phải chăng chế độ thực dân khiến cho tổ chức công đoàn của Việt Nam và Trung Quốc sản sinh ra sự khác biệt hay sự khác biệt này đã bị thay đổi bởi địa vị của hai quốc gia sau khi hai nước đã được ĐCS lên lãnh đạo chính quyền, hay cơ cấu quyền lực chính trị cao cấp cơ bản được hình thành trong lịch sử đấu tranh dựng nước. Nói một cách giản đơn hơn, sự lựa chọn chế độ không giống nhau của hai quốc gia vẫn là sự ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử nhất định trong từng thời kỳ cách mạng nhất định, thời kỳ sau là khi quốc gia phải đối mặt với các hoàn cảnh không giống nhau và cục diện quyền lực chính trị cao cấp nhưng vẫn cho phép chế độ này tiếp tục vận hành và tiếp tục được củng cố. Cuối cùng là khi hai nước bắt đầu cải cách kinh tế, hậu quả của chế độ vận hành đã khiến cho thể chế lao động của Việt Nam thể hiện rõ những hiện tượng mâu thuẫn với lý luận chung.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>3. Công đoàn và hành động tập thể của công nhân</strong>.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Đối với những sự kiện bãi công liên tiếp của của công nhân Việt Nam , đa phần phát sinh ở những xí nghiệp có yếu tố đầu tư nước ngoài. Có học giả cho rằng do mô hình quản lý của các xí nghiệp này quá nghiêm khắc.(16) Nhưng kiểu giải thích này khó thuyết phục được mọi người, khi mà các nhà đầu tư khu vực Đông Á đều áp dụng loại mô hình giống như vậy, bản thân các xí nghiệp đầu tư nước ngoài ở Trung Quốc đều có rất ít sự phàn nàn về vấn đề này và cũng khó có thể giải thích tại sao một số các cơ quan truyền thông của các nước phương Tây cho rằng: chính phủ Việt Nam đứng đằng sau các cuộc bãi công. Vì vậy, dưới đây chúng tôi sẽ thông qua việc so sánh chế lao động của Việt Nam và Trung Quốc, để xác định rõ rằng những cuộc bãi công liên tiếp xảy ra của công nhân Việt Nam nguyên nhân không chỉ là vấn đề quản lý của xí nghiệp. Sau đó đề cập đến sự khác biệt về chế độ lao động của hai quốc gia, trên cơ sở đó tiến thêm một bước chỉ ra sự khác biệt về quyền lợi của tổ chức công đoàn hai quốc gia này.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Cải cách kinh tế của Việt Nam sau Trung Quốc khoảng 10 năm, nhưng bắt đầu từ thập niên 90 cả hai nước đều chính thức thông qua trình tự lập pháp để định ra chế độ lao động. Năm 1992 Luật Lao động của Trung Quốc đã định ra luật Công đoàn, năm 1993 định ra Hiến chương Công đoàn toàn quốc nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, năm 2001 lần đầu tiên tiến hành sửa đổi Luật Lao động, năm 2008 chính thức thực hiện Luật Hợp đồng lao động. Ở Việt Nam, Luật công đoàn, Hiến chương của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam và các qui định pháp luật lần lượt được được đưa ra vào những năm 1990, 1993 và 1994. Điều đáng chú ý nhất là, mặc dù mặc dầu hai quốc gia có cùng thể chế chính trị định ra lập pháp, cùng khoảng thời gian hoàn thành chế độ lao động, nhưng đường đi nước bước mỗi nước lại hoàn toàn không giống nhau. Điều quan trọng hơn nữa là mặc dù pháp lệnh lao động của hai quốc gia có ý đồ duy trì cơ cấu của chủ nghĩa nghiệp đoàn quốc gia mình, nhưng giữa hai quốc gia lại tồn tại rất nhiều sự khác biệt, thậm chí tính tự chủ của công đoàn của Việt Nam đã được khẳng định.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Căn cứ vào các văn bản pháp lệnh cho thấy, quyền được bãi công hay không được bãi công là sự khác biệt lớn nhất của chế độ lao động giữa hai quốc gia. Ở Trung Quốc, mặc dù luật lao động, luật công đoàn và luật công ty đều cho phép công nhân và công đoàn có quyền “đàm phán tập thể”, “hiệp ước tập thể”, nhưng những quyền lợi này làm cơ sở cho quyền bãi công thì không thể được. Nó không cho phép công nhân thông qua các hành động tập thể để ép giới chủ phải nhượng bộ. Mặc dầu, công đoàn có thể thương lượng các điều kiện lao động cùng với xí nghiệp, nhưng các thương lượng này chỉ là đáp ứng yêu cầu ở mức thấp nhất của pháp lệnh mà thôi. Quyền bãi công là hành động tập thể do công đoàn lãnh đạo, là vũ khí quan trọng để công nhân đạt được phúc lợi. Ở Việt Nam, từ sau khi quyền bãi công được hợp pháp hóa, mặc dù pháp lệnh yêu cầu những điều lệ được bãi công tương đối nghiêm ngặt, khiến cho không có cuộc bãi công nào ở Việt Nam là được tiến hành hợp pháp, nhưng chính phủ Việt Nam từ trước đến nay chưa hề dùng vũ lực để chấn áp bất cứ cuộc bãi công nào, chưa có một công nhân nào tham gia bãi công bị chính phủ ghi vào biên bản để “sau này xem xét”(18)</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Một trong những sự kiện về lao động mà các nhà nghiên cứu nước ngoài tận mắt chứng kiến là cuộc bãi công từ ngày 28 tháng 12 năm 2005 đến ngày 7 tháng 1 ở khu chế xuất Linh Trung thành phố Hồ Chí Minh Việt Nam. Các học giả ước tính có khoảng 42000 công nhân trong khu chế xuất tham gia cuộc bãi công kéo dài 10 ngày này. (19) Nguyên nhân của cuộc bãi công này là các công nhân cho rằng các xí nghiệp đầu tư nước ngoài không tuân theo pháp lệnh, đòi nâng cao lương cơ bản. (20) Một số các cơ quan liên quan đến chính sách đầu tư nước ngoài của Việt Nam, như Bộ Lao động và Thương binh xã hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Liên đoàn Lao động Việt Nam. Đầu tiên là Bộ Lao động và Thương binh xã hội là cơ quan định ra những qui định về chế độ tiền lương tương đối có lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài. Nhưng sau đó do ảnh hưởng của sự biến đổi kinh tế thế giới, lương thực chất của người lao động Việt Nam không ngừng bị mất giá, cho nên thủ tướng lúc đó là Phan Văn Khải đã ra mệnh lệnh cho MOLISA, VGCL (Viet Nam General Confederation of Labour) và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt NamVietnamese Chamber of Commerce and Industrybắt tay vào việc bàn bạc triển khai chỉnh lý mức lương, nâng cao mức lương tối thiểu. Hiệp thương cuối cùng đã đứt đoạn, bởi vì Bộ Lao động và Thương binh xã hội đã ủng hộ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chấp nhận yêu cầu của của một số tổ chức đầu tư, chủ chương chỉ nâng cao 26% lương, điều đó là một khoảng cách khá thấp so với yêu cầu của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam là 40 %. Hai bên diễn ra tranh chấp, khiến cho chính phủ không thể đưa ra được quyết định. Sau khi bãi công xảy ra, MOLISA và VGCL công khai công kích đối phương. Khi đó Phó chủ tịch liên Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam VGCL là Đặng Ngọc Chiến đã phê bình các cơ quan quan liêu cắm đầu chạy theo các nhà đầu tư, cho nên mới kéo dài quyết định, cuối cùng mới xảy ra sự kiện bãi công nghiêm trọng như vậy. Nhưng Phạm Minh Huấn vụ trưởng Vụ Tiền lương Tiền công, Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội cho rằng về lý Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội phải được bàn bạc với các nhà đầu tư nước ngoài, chính phủ phải ủng hộ kết quả đó. Trong thời gian bãi công, hai tờ báo lao động thuộc biên chế của công đoàn Việt Nam là báo Lao độngLaborvà báo Người lao động (Laborer) ra sức kêu gọi công nhân tham gia bãi công.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Ở Trung Quốc tình hình không giống như vậy. Từ sau khi cải cách mở cửa, Trung Quốc cũng giống như Việt Nam xuất hiện ngày càng nhiều những cuộc tranh chấp giữa các nhà đầu tư ngoại và công nhân. Mấy năm gần đây ở Trung Quốc cũng xảy ra bãi công, nhưng pháp lệnh lao động không hề đề cập đến quyền lợi của người công nhân tham gia bãi công, thiếu hẳn điều khoản quyền bãi công, tức là người công nhân không được “rút lui tập thể” khi có tranh chấp với nhà đầu tư. Như vậy, công đoàn không thể trở thành người tổ chức cho các hành động tập thể của công nhân. Điều đó khiến cho những qui đinh về quyền lợi của công nhân và công đoàn bị xem nhẹ. (23)Ngoài những cái đó ra, trong quá trình hòa giải các tranh chấp lao động vai trò của công đoàn cũng tương đối mờ nhạt. Trong các bộ luật có liên quan như Luật Lao động và những qui định, điều lệ khác để giải quyết các tranh chấp lao động trong các cơ quan xí nghiệp, vai trò của công đoàn nhất thiết phải là “người thứ ba” không được với tư cách là người đại biểu cho người lao động để phát ngôn. Hình thức cố định đặt ra để tham gia giải quyết các tranh chấp lao động giữa lao động và nhà đầu tư là yêu cầu phải đồng thời có đại biểu quyền lợi cho cả hai bên “chủ và công nhân”. Điều khiến cho công đoàn cảm thấy cấn cá nữa, đó là khó có được sự thừa nhận từ phía công nhân về vai trò của công đoàn. (24) Từ khi cải cách mở cửa đến nay, công đoàn của Trung Quốc đã có thêm rất nhiều các chức năng, đã có nhiều biểu hiện giúp đỡ công nhân giải quyết các tranh chấp lao động và sự trợ giúp về kinh tế càng ngày càng nhiều (25) Nhưng bất luận là những pháp qui qui định hay các hành động của công đoàn, về cơ bản đều chỉ là những cá nhân cá biệt mà không phải là trên cơ sở tập thể công nhân tiến hành. Nếu như so sánh với cuộc bãi công năm 2005 của Việt Nam, thì có thể thấy không gian của công đoàn Trung Quốc và những tờ báo thuộc công đoàn Trung Quốc thật là hạn hẹp.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>4. Nguồn gốc của những sự khác biệt </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Tại sao công đoàn Việt Nam và công đoàn Trung Quốc lại có biểu hiện khác nhau? Tác giả cho rằng, sự khác biệt đã bắt đầu được hình thành ngay trong lịch sử xây dựng nhà nước của hai quốc gia. Lúc đầu Đảng cộng sản Việt Nam phải dựa vào công đoàn để bảo đảm cho các mặt chính trị, quân sự và kinh tế, điều đó đã khiến công đoàn có một ảnh hưởng tương đối sâu rộng trong xã hội. Ngược lại, Đảng cộng sản Trung Quốc trước khi giành được chính quyền, tổ chức công đoàn đã được sắp xếp ngay dưới sự lãnh đạo của ĐCS. Vì vậy công đoàn Trung Quốc hoàn toàn lệ thuộc vào Đảng cộng sản Trung Quốc, phục tùng sự chỉ huy của Đảng cộng sản Trung Quốc. Một lý do nữa đó là những động thái chính trị của các nhà lãnh đạo cấp cao của hai nhà nước. Các nhà lãnh đạo cấp cao Việt Nam hiểu rõ tính tự chủ tương đối của công đoàn. Hơn nữa chính phủ Việt Nam đã duy trì được trạng thái cân bằng quyền lực trong một thời gian dài, cho nên công đoàn có thể tồn tại giữa người lao động và nhà đầu tư. Còn Trung Quốc, do Mao Trạch Đông độc tài nắm quyền, nội bộ đảng không thể kháng quyết lại, nên công đoàn cũng không thoát khỏi tội bị chính đốn.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Nếu như đứng ở góc độ lịch sử để so sánh thái độ của ĐCS Liên Xô, ĐCS Trung Quốc và ĐCS Việt Nam có thể thấy Liên Xô và Trung Quốc có một sự kiểm soát rất nghiêm ngặt với người lao động. Liên Xô kiểm soát qua hệ thống tổ chức hành chính, lấy chấn áp người lao động là phương châm chủ yếu. (26) Còn Trung Quốc lại thông qua đơn vị, thông qua phương thức phát động các phong trào quần chúng…để khống chế công nhân, khiến người lao động phải phục tùng mệnh lệnh của quốc gia. Thể chế lao động của Việt Nam vừa bị ảnh hưởng của Liên Xô vừa bị ảnh hưởng của Trung Quốc, thời kỳ đầu đã áp dụng phương thức động viên quần chúng, nhưng đến thời kỳ sau do phải phục vụ chiến tranh, nên sự kiểm soát của nhà nước Việt Nam với công nhân chưa bao giờ đạt được trình độ như của Trung Quốc và Liên Xô.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Từ khi thành lập đảng cộng sản tới nay, Hồ Chí Minh đặt ra nhiệm vụ cho cách mạng Việt Nam là cách mạng dân tộc chống đế quốc Pháp. Hồ Chủ Tịch nhận thấy rằng cách mạng chống chủ nghĩa thực dân không phân chia giai cấp, toàn thể nhân dân bị áp bức đoàn kết để chống chủ nghĩa thực dân. Dưới nguyên tắc đó ĐCS Việt Nam chủ chương, trừ chủ nghĩa đế quốc, đại địa chủ, trung tiểu địa chủ, nông phu, các nhà tư sản phản cách mạng ra tất cả các tầng lớp khác trong xã hội đều đoàn kết dưới một trận trận tuyến thống nhất. Mặc dù chủ chương về đường lối chiến tranh giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh trong nội bộ ĐCS cũng đã từng có ý kiến này ý kiến khác, song ngay trong khoảng đại chiến thế giới lần thứ hai đã được xác định rõ đường lối kháng chiến. Đó là năm 1941 Hội nghị Ủy viên TW lần thứ 8 đã được tổ chức dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh đã xác định nhiệm vụ cách mạng là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, cách mạng chống chủ nghĩa chủ nghĩa phong kiến đứng hàng thứ hai. (28) Năm 1945 cách mạng tháng tám thắng lợi, sau khi xây dựng chính quyền ĐCS, nhiệm vụ đầu tiên Hồ Chí Minh quan tâm nhất của là thống nhất nước nhà. Cũng trong thời gian này, ĐCS đã bắt đầu tiến hành một số bước để bảo hộ quyền lợi của người lao động. Năm 1946 đã thông qua Bộ Luật Lao động đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, trong đó có qui định quyền được bãi công của người lao động. Năm 1946, sau khi chiến tranh Trung Nam bán đảo xảy ra, Việt cộng bị buộc phải rút quân khỏi miền nam Việt Nam, chỉ được hạn chế ở miền bắc Việt Nam. Giai đoạn này, Việt Nam đã tăng cường tốc độ xây dựng xí nghiệp quốc doanh, những xí nghiệp này được coi là một bộ phận trong bộ máy quan liêu hành chính, do đảng bộ, xưởng trưởng và các tổ chức công đoàn nhà nước quản lý. Sau khi chiến tranh qui mô ngày được mở rộng, để tăng cường sự động viên đối với công nhân, năm 1949 văn kiện số 118 của Bộ Lao động đã tuyên bố xây dựng “Chế độ quản lý dân chủ”. Văn kiện qui định rằng tất cả các xí nghiệp quốc doanh, xí nghiệp ngoài quốc doanh đều lập ra Ủy ban công xưởng. Nhà nước muốn thông qua Ủy ban công xưởng để tăng cường động viên công nhân trong những nhà máy, xí nghiệp ngoài quốc doanh. Đến năm 1954 khi cuộc chiến tranh Trung Nam bán đảo lần thứ nhất kết thúc, Nam Bắc Việt Nam đã bị phân chia, thì nhiệm vụ của Việt cộng là an định công nhân và tăng cường sản xuất là nhiệm vụ quan trọng.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Bắt đầu từ năm 1956, do mức sống tiêu chuẩn của công nhân trong cuộc chiến tranh Trung Nam bán đảo lần thứ nhất ngày càng bị xuống dốc nên chính phủ Việt cộng bắt đầu gặp phải sự thách thức của xã hội. Năm 1956 ở Việt Nam xuất hiện phong trào “trăm hoa đua nở” made in Việt Nam, nhưng cuối năm đó Việt cộng đã bắt đầu chấn áp dư luận xã hội và tăng cường sự kiểm soát với người lao động. Phương pháp chấn áp có xu hướng học tập theo thể chế hành chính quan liêu của Liên Xô. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 12 năm 1957 đã ra quyết nghị phải tăng cường kiểm soát công nhân, để thúc đẩy sức sản xuất, khôi phục nền kinh tế quốc dân. (31) Nhưng sau đó không lâu, năm 1961 chiến tranh lại nổ ra, khiến cho nhà nước đã chuyển hướng dựa vào công đoàn và đặt ra rất nhiều nhiệm vụ cho công đoàn. Trong quá trình chiến tranh xảy ra, công đoàn đã đảm nhiệm rất nhiều nhiệm vụ quan trọng cho chính phủ Bắc Việt, bao gồm lệnh tổng động viên, xắp xếp cuộc sống cho quân đội, động viên công nhân tham gia xây dựng đất nước …Trong giai đoạn lịch sử đó đã khiến cho công đoàn và các tầng lớp nhân dân có điều kiện tiếp xúc với nhau. Chính vì vậy, mặc dù công đoàn với danh nghĩa là người đại biểu cho Đảng để tiến hành công việc nhưng cũng đã tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm xã hội cho công tác công đoàn của mình. Nếu như so sánh thời kỳ Bắc Việt và công đoàn Việt Nam sau này thì có thể công đoàn Việt Nam sau này cơ bản không chiụ sự khống chế trực tiếp của ĐCS. Trước khi Việt Nam thống nhất xã hội miền Nam Việt Nam trải qua một giai đoạn đối kháng bạo lực giữa chính phủ và người lao động, hồi ức về lịch sử đã đã khiến cho công đoàn Nam Việt Nam phụ thuộc rất ít vào chính phủ.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Có một giả thuyết cho rằng, cách mạng Việt Nam xảy ra trong bối cảnh chủ nghĩa thực dân nên khiến cho Việt cộng không nhấn mạnh cách mạng giai cấp. Hơn nữa, cuộc chiến tranh hơn 10 năm xảy ra sau này càng khiến cho nhà nước không thể kiểm soát được người lao động, thậm trí còn khiến cho đoàn xây dựng một mạng lưới quan trọng và sâu rộng trong xã hội. Tại sao sau khi Nam Bắc thống nhất, nhà nước không có những biện pháp có hiệu quả như Trung Quốc để đưa công đoàn động động dưới quĩ đạo của ĐCS? Nguyên nhân quan trọng nhất là sau khi thống nhất tổ quốc, do chính sách kinh tế qui hoạch không thỏa đáng, rồi tiếp theo là chiến tranh với Campuchia và Trung Quốc lần lượt nổ ra, nội bộ kinh tế trong nước đã đến giai đoạn tan vỡ. Để vãn hồi kinh tế, năm 1979 chính phủ Việt Nam đã phát động chính sách kinh tế mới. Năm 1986 đại hội đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 6 đã chính thức thông qua chính sách đổi mới và cử ra Nguyễn Văn Linh- người của phái đổi mới làm Tổng bí thư. Từ đó về sau quan chức cao cấp của chính phủ Việt Nam đã thay đổi mấy lần, nhưng chủ chương rời bỏ nền kinh tế tập chung, chuyển hướng sang chính sách đổi mới của nền kinh tế thị trường luôn là kim chỉ nam. Bởi vì, lịch trình phát triển của kinh tế chính trị Việt Nam từ sau khi thống nhất, đã thể hiện rõ: về mặt kinh tế, chính sách tập thể hóa chưa hoàn toàn thiết thực; về mặt chính trị chính phủ Việt Nam bị cuốn vào vòng xoáy của chính trị quốc tế, cho nên thể chế Đảng cộng sản nhà nước Việt Nam từ trước tới giờ chưa có đủ thời gian để tiến hành khống chế xã hội một cách chặt chẽ.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Ở Trung Quốc, tổ chức công đoàn luôn gắn chặt chẽ với ĐCS Trung Quốc. Năm 1921 đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất đã xác định, để tổ chức giai cấp công nhân, lãnh đạo công đoàn là nhiệm vụ trọng tâm của ĐCS Trung Quốc. Năm 1925 Tổng hội công đoàn toàn quốc Trung Hoa đã chính thức được thành lập ở Quảng Châu, hoàn đoàn chịu sự lãnh đạo của ĐCS Trung Quốc. Thời kỳ đầu xây dựng chính quyền, quan điểm của công đoàn và ĐCS về vai trò của công đoàn trong thể chế nhà nước xã hội chủ nghĩa đã từng xảy ra nhiều tranh luận, nhưng để cố gắng khôi phục lại kinh tế nước nhà, vai trò của công đoàn dần dần nghiêng về động viên người lao động tham gia sản xuất, chứ không về phía là đại biểu cho lợi ích của giai cấp lao động. (33) Năm 1950 Luật Công đoàn được ban bố, tổ chức công đoàn đã hoàn toàn được thu nạp thành tổ chức của quốc gia, được cung cấp những chức năng, quyền hạn hành chính. Như vậy, từ trước khi xây dựng chính quyền, quan hệ sở thuộc của công đoàn vào ĐCS được gắn chặt với bối cảnh lịch sử. (34) Sau khi xây dựng chính quyền, để củng cố cơ sở thống trị, chính phủ Trung cộng (chính phủ dựa vào giai cấp nông dân để giành được chính quyền) đã bắt đầu chuyển trọng tâm công tác sang đô thị. Khi đó các nhà lãnh đạo cao cấp của công đoàn đa phần là những người lãnh đạo kiêm nhiệm trong ĐCS, kiểu lãnh đạo đó đã xác định vị trí lãnh đạo của ĐCS đối với các hoạt động tổ chức công đoàn . Ngoài ra, khi đó những người làm công tác công đoàn đa phần là những cán bộ lãnh đạo của phong trào công đoàn thời kỳ đầu.(35) Vì vậy, công đoàn trong thời kỳ có phạm vi hoạt động tương đối rộng.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Công đoàn và thể chế ĐCS Trung Quốc lãnh đạo nhà nước đã từng xảy ra 5 lần tranh chấp, bao gồm lần tranh chấp vào thời kỳ đầu xây dựng nhà nước; Thời kỳ nổ ra phong trào “trăm hoa đua nở” năm 1975; Thời kỳ cách mạng văn hóa ở Trung Quốc và hai sự kiện Thiên An Môn năm 1976 và 1989 . (36) Như vậy phần trên đã trình bày về quan hệ lãnh đạo và tổ chức giữa công đoàn và ĐCS đã trở thành nguồn gốc cho lần tranh chấp đầu tiên. Trong lần tranh chấp này Đặng Tử Khôi và Cao Cương đã tranh luận về vấn đề có tồn tại những lợi ích khác nhau giữa công đoàn và các cơ quan hành chính nhà nước hay không? và trong nội bộ các xí nghiệp của quốc doanh có tồn tại vấn đề giai cấp bóc lột hay không? Khi đó Lý Lập Tam giữ chức chủ tịch tổng hội công đoàn toàn quốc đã ủng hộ lập trường của Đặng Tử Khôi, cho rằng: trong các xí nghiệp quốc hữu có tồn tại mâu thuẫn giữa lợi ích công và lợi ích tư. Cho nên, ông chủ chương dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy cho phép công đoàn tự chủ triển khai các hoạt động về mặt tổ chức. (37) Năm 1951 Lý Lập Tam bị phê bình và bị tước quyền chủ tịch tổng hội công đoàn, những cố gắng của công đoàn trong cuộc thử nghiệm đầu tiên để quyền giành quyền độc lập cao hơn đã thất bại. Trong khoảng năm 1953 đến năm 1955 TW ĐCS Trung Quốc đã ra sức khống chế công đoàn, nhưng theo trào lưu tự do hóa của Đông Âu, trong nội bộ Trung Quốc đã xuất hiện hàng loạt những cuộc bãi công, bãi lớp. Dưới áp lực của xã hội, chủ tịch Tổng hội công đoàn Lại Nhược Ngu chủ chương nhiệm vụ của tổ chức công đoàn là bảo vệ quyền lợi dân chủ và lợi ích vật chất của công chức, đồng thời yêu cầu hệ thống lập pháp cho phép công đoàn có nhiều quyền lợi hơn nữa. Nhưng sau đó Lại Nhược Ngu trong phong trào chống cánh hữu năm 1975 đã bị mang ra đấu tố, công đoàn lại quay trở lại con đường thuần phục ĐCS. Thời Cách mạng văn hóa, Tổng hội công đoàn đã đưa ra khẩu hiệu đấu tranh vì sự diệt vong của công đoàn. Thời kỳ đó cũng xuất hiện tổ chức tạo phản chống lại Tổng hội công đoàn. Đó là tổ chức “Tổng hội tạo phản những người lao động đỏ toàn quốc” gọi tắt là “Toàn đỏ tổng”. Nhưng sau đó, Tổng hội công đoàn và Toàn đỏ tổng cùng bị Quốc vụ viện và chính quyền TW Trung cộng phê phán và Tổng hội công đoàn cũng ngưng hoạt động từ đó.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Nguồn gốc của những lần tranh chấp giữa ĐCS Trung Quốc và công đoàn vào thời kỳ đầu là do quan điểm về lợi ích do công đoàn đại biểu không thống nhất. Vì vậy khi phát động các phong trào chính trị, các cuộc đấu tranh quyền lực ở cấp lãnh đạo cũng sẽ đề cập đến quan hệ giữa đảng và công đoàn. Nhưng mâu thuẫn trong mấy năm gần đây chủ yếu xảy ra trong quá trình chuyển đổi kinh tế xã hội. Nhà nước một mặt yêu cầu công đoàn phải đảm nhiệm nhiều vai trò hơn nữa, để làm con đường thoát cho sự bất mãn của công nhân, nhưng mặt khác nhà nước lại không quyết đoán từ bỏ quyền kiểm soát với công đoàn, thậm chí còn thể hiện rõ sự nghi ngờ vực đối với khả năng hành động của tập thể người lao động. Có thể nhìn rõ thái độ mâu thuẫn của chính phủ trong hàng loạt các cuộc cải cách đối với công đoàn vào năm 1980. Tháng 8 năm đó Tổng hội công đoàn toàn quốc triệu tập hội nghị chủ tịch công đoàn các tỉnh, thành phố trực thuộc, khu tự trị để chỉ rõ vấn đề cơ bản của công đoàn là “quan biện”. Nhà nước một mặt áp dụng những quyết nghị của công đoàn, xây dựng chế độ người lao động có quyền tham gia hội nghị đại biểu công chức. Mặt khác lại lại hủy bỏ quyền được bãi công của người lao động mà trong Hiến pháp đã qui định rõ, đến tận ngày nay vẫn chưa khôi phục quyền này.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Sự kiện Thiên An Môn năm 1989, đã khiến tổ chức công đoàn một lần nữa bị chấn áp về chính trị. Trong sự kiện Thiên An Môn, Bắc Kinh đã xuất hiện vô số tổ chức lao động do người lao động tự tổ chức. Trong đó, mang tính tiêu biểu nhất là Hội nghị liên hợp tự trị công nhân Bắc Kinh. Nhưng kinh nghiệm của liên đoàn công nhân của Ba Lan khiến cho tất cả những tổ chức công nhân mang tính độc lập ở Bắc Kinh cảm thấy cảnh giác. Cải cách công đoàn từ khi cải cách mở cửa đến nay bị cưỡng bức phải nửa đường đứt gánh. Mặc dầu vậy, từ nghững năm 1990 đến nay nhiều tổ chức của các xí nghiệp vẫn tiếp tục cải cách, nhưng hàng loạt những cố gắng của họ đa phần bị cho là vấn đề người lao động không ngừng phát sinh, qui mô ngày càng lớn do nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Nhà nước ĐCS yêu cầu công đoàn là công cụ để giúp đỡ người lao động giải quyết các tranh chấp. Cho nên, mặc dù công đoàn không ngừng mong muốn thay đổi lại cơ cấu của mình, nhưng thực chất nhiệm cụ mà nhà nước giao cho họ vẫn chỉ là tập trung ở việc tăng cường ký kết các hợp đồng tập thể và tăng cường luật pháp cho những lợi ích mang tính cá nhân cho công nhân, thậm chí quyền lợi tập thể như bãi công, đến tận ngày hôm nay vẫn chưa được nhà nước cho phép.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>5. Kết luận </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Với những sách lược phát triển kinh tế gần giông nhau, nhưng chính phủ Việt Nam đã sớm đưa ra được những sách lược để bảo quyền lợi của người lao động. Dưới sự lãnh đạo của nhà nước ĐCS, nhưng công đoàn Việt Nam lại có quyền tự chủ cao hơn công đoàn Trung Quốc. Thông qua các văn kiện đã có có thể quan sát thấy các hiện tượng đó, nhưng những nhân tố sâu xa đứng đằng sau vấn đề đó thì chưa được đưa ra giải thích đầy đủ.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Thông qua lịch sử xây dựng chính quyền ĐCS thời kỳ đầu của hai quốc gia Việt Nam và Trung Quốc, tác giả nhận thấy rằng những cái khác biệt mà chúng ta thấy ngày nay là kết quả của việc dựa vào đường lối. Quan hệ giữa ĐCS và công đoàn của Việt Nam và Trung Quốc đã được xây dựng ngay từ thời kỳ đầu đặt nền móng xây dựng chế độ mới. Nhưng những khó khăn, tình hình quốc tế, tình hình kinh tế chính trị mà hai quốc gia phải đối mặt trong quá trình xây dựng chính quyền là đã xác lập quyền lực hình thái vận hành của cơ quan cao cấp mỗi quốc gia, khiến cho những người thực thi quyền chính trị thiếu nguồn lực đầy đủ để thay đổi cục diện chế độ hiện hữu, thay đổi chế độ thù lao để ngày càng có hiệu quả triển khai thể chế lao động khác nhau của hai quốc gia. Nếu như nói sau khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa xây dựng chính quyền, không cho phép cấu kết chính trị Thanh Anh (như Mao Trạch Đông) tập kết các nguồn lực để nhấn mạnh sự khống chế của ĐCS đối với công đoàn, thậm chí còn tiến thêm một bước là trấn áp mọi yêu cầu tự chủ của công đoàn. Kiểu câu kết chính trị Thanh Anh của Việt Nam chưa bao giờ có cơ hội để hành động như vậy.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Tác giả mong muốn từ góc độ lịch sử phát triển của hai nước để tìm ra nguồn gốc của sự khác biệt đồng thời đi sâu vào tìm hiểu nguyên nhân có sẵn trong lý luận để làm rõ mối quan hệ giữa công đoàn và thể chế ĐCS nhà nước Việt Nam. Thông qua những cứ liệu lịch sử để triển khai một suy luận nhân quả causal inference). Nhưng do những hạn chế như: các vấn đề nghiên cứu liên quan không đầy đủ, cứ liệu lịch sử còn thiếu sót…khiến cho kết quả của luận điểm còn nhiều sơ hở, hy vọng sau này sẽ tiếp tục tìm hiểu thêm các cứ liệu để hoàn thiện hơn.</span></p>
<p>———</p>
<p>* <strong><strong>Ghi chú của Ba Sàm: </strong></strong>Tham luận được phổ biến tại HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển”, đã được đưa lên trang Ba Sàm từ năm 2010, nhưng do bị tin tặc phá, xóa mất, nay đưa lên lại. Mời xem thêm các bài viết về cuộc hội thảo này trên BBC (riêng trang web của Hội thảo có lẽ đã bị gỡ bỏ): + <a href="http://www.bbc.co.uk/vietnamese/specials/170_viet_studies/" target="_blank">Việt Nam học trong thế kỷ 21</a>; + <a href="http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/12/081204_vietnam_study_blog.shtml" target="_blank">Thăm ban tổ chức hội thảo VN học lần ba</a>; + <a href="http://www.bbc.co.uk/vietnamese/culture/story/2008/11/081119_vu_minh_giang.shtml" target="_blank">Nghiên cứu Việt học ‘không độc quyền</a>‘;  + <a href="http://www.bbc.co.uk/vietnamese/indepth/story/2008/12/081214_viet_expansion_history.shtml" target="_blank">Đánh giá lịch sử mở rộng lãnh thổ của Việt Nam</a>; + <a href="http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/12/081209_hochiminh_rethinking.shtml" target="_blank">Kiến giải của một người Nhật về ông Hồ</a>;  +  <a href="http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/12/081206_lehai_vietstudies.shtml" target="_blank">Chủ tịch VN nói chuyện với học giả nước ngoài</a> và <strong>các tham luận đã đăng lại trên Việt Sử Ký</strong>:  +  <a title="Permanent link to 65. THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM THẾ KỶ XI – XIII DƯỚI THỜI LÝ" href="../2012/02/05/61-the-che-chinh-tri-o-viet-nam-the-ky-xi-xiii-duoi-thoi-ly/" rel="bookmark" target="_blank">65. THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM THẾ KỶ XI – XIII DƯỚI THỜI LÝ</a>;+  <strong><a title="Sửa “60. ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO PHẬT ĐỐI VỚI CHÍNH TRỊ TRIỀU LÝ”" href="../2012/02/05/61-the-che-chinh-tri-o-viet-nam-the-ky-xi-xiii-duoi-thoi-ly/post.php?post=1436&amp;action=edit">60. ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO PHẬT ĐỐI VỚI CHÍNH TRỊ TRIỀU LÝ</a></strong>; +  <strong><a title="Sửa “57. VĂN HÓA VIỆT NAM:TOÀN CẦU HÓA VÀ THỊ TRƯỜNG”" href="../2012/02/05/61-the-che-chinh-tri-o-viet-nam-the-ky-xi-xiii-duoi-thoi-ly/post.php?post=1418&amp;action=edit">57. VĂN HÓA VIỆT NAM:TOÀN CẦU HÓA VÀ THỊ TRƯỜNG</a></strong>; + <a title="Nguyễn Thị Lệ Hà *  Viện Sử học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam  1. Vài nét về thân thế của Nguyễn Văn Vĩnh  Nguyễn Văn Vĩnh sinh ngày 30 tháng 4 năm Nhâm Ngọ, (tức ngày 15.6.1882), tại số nhà 46 phố Hàng Giấy, Hà Nội, nguyên quán làng Phượng Dực, thuộc phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay là huyện Phú Xuyên). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, đông con ở vùng đồng chiêm trũng, quanh năm đói kém, nên bố mẹ ông phải bỏ quê ra Hà Nội kiếm sống. Tám tuổi ông làm nghề kéo quạt ở trường Thông ngôn của Pháp mở tại đình Yên Phụ.  Năm 11 tuổi nhờ chăm chỉ và ham học ông được Hiệu trưởng D’Argence đồng ý cho dự thi tuyển vào lớp thông ngôn tập sự ngạch Tòa công sứ, niên khóa 1893-1895. Ông đỗ thứ 12 trong tổng số 40 học sinh. Ông đã đỗ thủ khoa khi mới 13 tuổi và được tuyển làm phiên dịch của Tòa công sứ Lào Cai, Tòa công sứ Hải Phòng, sau lại làm thông ngôn ở Tòa công sứ Bắc Giang (từ 1902-1905)." href="../2012/01/24/56-nguyen-van-vinh-voi-bao-chi-va-chu-quoc-ngu/" target="_blank">56. NGUYỄN VĂN VĨNH VỚI BÁO CHÍ VÀ CHỮ QUỐC NGỮ</a>; + <a title="PGS.TS. Chương Thâu, Viện Sử học *   Khoảnh khắc giao thời giữa hai thế kỷ (XIX và XX) ở vùng Đông Á lúc bấy giờ diễn ra nhiều sự kiện trọng đại, nhất là ở Nhật và ở Trung Quốc. Vận động duy tân ở Nhật Bản, bắt đầu tới Minh Trị Thiên hoàng, đưa đến kết quả rực rỡ. Nước Nhật tiến lên thành một cường quốc, đánh thắng được nước Nga. Cả thế giới, đặc biệt là Đông Á và Đông Nam Á, thừa nhận là nhờ có duy tân, nước Nhật mới đạt được thành tựu lớn như vậy. Vận động duy tân ở Trung Quốc, bắt đầu với vua Quang Tự, gặp sự cản trở của thế lực phong kiến, rồi sự xâu xé của các liệt cường, trải nhiều biến cố mới đi đến cuộc Cách mạng Tân Hợi. Nhưng chính cuộc vận động này đã dồn dập xuất hiện rất nhiều tác phẩm lý luận chính trị xã hội, làm cho giới nho sĩ ở Trung Quốc sực tỉnh, chuyển biến theo đường lối mới, và ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nước ở trong vùng. Cả khu vực Đông Á đang bắt đầu thức tỉnh, trong đó có Việt Nam." href="../2012/01/22/54-phong-trao-duy-tan-dau-the-ky-xx/" target="_blank">54. PHONG TRÀO DUY TÂN ĐẦU THẾ KỶ XX</a>; + <a title="ThS. Tống Thị Quỳnh Hương *  Đại học Sư phạm Hà Nội  Đặt vấn đề Người Trung Hoa đến Việt Nam khá sớm, ít nhất cũng vào khoảng đầu Công nguyên. Trải qua nhiều thế kỉ, người Hoa đã xuất hiện trên khắp ba miền của nước ta, tuy nhiên, những người Hoa di cư đến miền Bắc chủ yếu là quan lại và binh lính của các đội quân xâm lược nhiều hơn là thương nhân đến buôn bán (ngoại trừ một bộ phận người Hoa ở Phố Hiến, Thăng Long), do vậy ở miền Bắc nước ta, những cộng đồng người Hoa thường nhỏ lẻ, không có quy mô lớn và tiêu biểu như ở miền Trung và miền Nam. Cũng như người Hoa ở các nước Đông Nam Á khác, người Hoa đến Việt Nam trải qua một quá trình sinh sống và buôn bán lâu dài, họ đã lập nên những làng, những phố của mình, hình thành nên những cộng đồng người Hoa ổn định và phát triển, trở thành một bộ phận cư dân của cộng đồng dân tộc Việt. Trong khoảng từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX, cùng với sự hình thành các cộng đồng người Hoa, ở miền Trung và Nam Việt Nam cũng đã xuất hiện nhiều đô thị, trung tâm thương mại rất sầm uất với vai trò nổi bật của các Hoa thương. Những đô thị này đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế nước ta trong nhiều thế kỉ. Một số đô thị như: Thanh Hà, Bao Vinh, Cù Lao Phố, Hội An, Chợ Lớn… đã trở thành những trung tâm buôn bán, trung chuyển hàng hóa quan trọng trong khu vực và quốc tế." href="../2012/01/21/53-nguoi-hoa-trung-nam-bo-vnxvii-xix/?preview=true" target="_blank">53. NGƯỜI HOA TRUNG-NAM BỘ VN (XVII-XIX)</a>;  + <a title="Sửa “52. QUAN HỆ VIỆT NAM – LIÊN XÔ 1965 – 1975”" href="../2012/02/05/2012/01/20/52-quan-he-viet-nam-lien-xo-1965-1975/?preview=true" target="_blank">52. QUAN HỆ VIỆT NAM – LIÊN XÔ 1965 – 1975</a>;  +  <a title="TS Châu Thị Hải *  Viện Khoa học xã hội Việt Nam  Trong cuộc Hội thảo Việt Nam học lần thứ nhất được tổ chức tại Hà Nội vào mùa thu năm 1998, tôi đã có dịp đưa ra thảo luận vấn đề: Diễn biến địa lý và lịch sử trong quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hoá Việt – Hoa. Tôi có dự định sẽ thảo luận những vấn đề tiếp theo như: người Hoa với quá trình hình thành và phát triển các đô thị thương mại ở Việt Nam; người Hoa với các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc; với quá trình đổi mới đất nước; đặc biệt trong xu thế hội nhập khu vực và thế giới hiện nay,… tại cuộc hội thảo Việt Nam học lần thứ hai. Nhưng đáng tiếc là thời gian đó tôi chưa có cơ hội để tham gia." href="../2012/02/05/2012/01/09/41-nguoi-hoa-trong-lich-su-viet-nam/" target="_blank">41. NGƯỜI HOA TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM</a>; +<a title="PGS TS. Phạm Duy Nghĩa *  Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội  Phó Giáo Sư Tiến Sĩ Phạm Duy Nghĩa tốt nghiệp Đại học Leipzig (Đức) và bảo vệ luận án TS luật năm 1991 tại đây.Hơn 10 năm học tập và giảng dạy tại các nước Mỹ, Nhật.  Tóm tắt/Từ khoá: Di sản dân luật Pháp, điều kiện du nhập pháp luật thành công, thất bại của cuộc du nhập dân luật Pháp, du nhập pháp chế xã hội chủ nghĩa, những cuộc chuyển đổi hướng tới luật pháp hỗ trợ, tạo điều kiện cho nền kinh tế thị trường, pháp luật và tự do phát triển, tự quản địa phương" href="../2012/02/05/2012/01/21/2012/01/08/40-tu-nha-nuoc-toan-tri-toi-thoi-dai-dan-doanh-gia-tai-cua-60-nam-luat-hoc-viet-nam/" target="_blank"> 40. TỪ NHÀ NƯỚC TOÀN TRỊ TỚI THỜI ĐẠI DÂN DOANH: GIA TÀI CỦA 60 NĂM LUẬT HỌC VIỆT NAM</a>; + <a title="“Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam có hiến pháp nhưng hiến pháp không được quan niệm như chủ nghĩa hợp hiến là một công cụ để giới hạn quyền lực của nhà nước. Thay vào đó, hiến pháp được hiểu có tính giai cấp, là công cụ thực hiện quyền lực của giai cấp công nhân. Hiến pháp không phải là một bản văn trung lập mà có định hướng rõ rệt: điều tiết chính quyền để đạt tới xã hội chủ nghĩa.”" href="../2012/02/05/2012/01/21/2012/01/09/2012/01/07/39-chu-nghia-hop-hien-o-vn/" target="_blank">39. CHỦ NGHĨA HỢP HIẾN Ở VN</a>; + <a title="ThS. Lê Tiến Công *  Đại học Phan Châu Trinh, Quảng Nam  Đặt vấn đề  Trong định hướng phát triển vùng của Chính phủ giai đoạn 2001-2010, khu vực biển và hải đảo được xác định: “tiến mạnh ra biển và làm chủ vùng biển. Phát triển tổng hợp kinh tế biển và ven biển, khai thác lợi thế của các khu vực cửa biển, hải cảng để tạo thành vùng phát triển cao, thúc đẩy các vùng khác. Xây dựng căn cứ hậu cần ở một số đảo để tiến ra biển khơi. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo vệ an ninh trên biển”1. Điều đó cho thấy vị thế quan trọng của biển, đảo trong chiến lược phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng." href="../2012/02/05/2012/01/21/2012/01/06/38-tuan-tra-kiem-soat-vung-bien-thoi-nguyen-so1802-1858/" target="_blank">38. TUẦN TRA, KIỂM SOÁT VÙNG BIỂN THỜI NGUYỄN SƠ:1802-1858</a>; + <a title="GS. Yu Insun Đại học Quốc gia Seoul * 1. Lời nói đầu  Lịch sử Việt Nam trong giai đoạn hai nghìn năm trước cận đại không thể lí giải chính xác nếu không gắn với quan hệ về mặt chính trị với Trung Quốc. Chúng ta có thể hiểu về điều này một cách dễ dàng từ quan hệ hai nước được trình bày dưới đây.  Từ cuối thế kỷ thứ II trước Công nguyên đến nửa đầu thế kỷ thứ X sau CN, Việt Nam chịu sự thống trị trực tiếp của Trung Quốc trong một nghìn năm cho đến khi giành được độc lập. Một nghìn năm này trong lịch sử Việt Nam thường được gọi là “thời kì Bắc thuộc”. Từ sau khi thoát khỏi ách thống trị của Trung Quốc giành độc lập vào nửa đầu thế kỷ thứ X đến trước khi rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp vào nửa sau thế kỷ XIX, trong một nghìn năm, Việt Nam đã thiết lập quan hệ triều cống dưới hình thái nước phiên thuộc của Trung Quốc, vừa duy trì quan hệ thân thiện về chính trị vừa đồng thời tiếp nhận văn hóa Trung Quốc trong “trật tự thế giới kiểu Trung Hoa”, theo cách nói của người Trung Quốc." href="../2012/02/05/2012/01/21/2012/01/09/2011/12/29/33-lich-su-quan-he-viet-nam-trung-quoc-the-ky-xix-the-che-trieu-cong-thuc-va-hu/" target="_blank">33. LỊCH SỬ QUAN HỆ VIỆT NAM-TRUNG QUỐC THẾ KỶ XIX THỂ CHẾ TRIỀU CỐNG, THỰC VÀ HƯ</a>;  + <a title="Ths. Phạm Thị Thanh Huyền Khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm Hà Nội *  Đặt vấn đề  Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, hầu hết các tôn giáo lớn trên thế giới đều có mặt ở đây (Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành giáo…). Trong quá trình phát triển đạo ở Việt Nam, các tôn giáo đã trở thành cầu nối tiếp xúc văn hoá, vì tôn giáo bản thân nó cũng chính là một thành tố của văn hoá. Do đó, không thể phủ nhận vai trò đặc biệt quan trọng của tôn giáo đối với sự phát triển của văn hoá Việt Nam." href="../2012/02/05/2012/01/21/2012/01/09/2011/12/23/29-mot-so-dong-gop-cua-thien-chua-giao-doi-voi-van-hoa-viet-nam-the-ky-xvii-dau-the-ky-xx/" target="_blank">29. MỘT SỐ ĐÓNG GÓP CỦA THIÊN CHÚA GIÁO ĐỐI VỚI VĂN HOÁ VIỆT NAM (THẾ KỶ XVII – ĐẦU THẾ KỶ XX)</a>; + <a title="PGS.TS. Đỗ Bang *  Trường Đại học Khoa học Huế  Thiên Chúa giáo du nhập vào Việt Nam từ năm 1533, đây không chỉ là vấn đề thuần túy của tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa mà là vấn đề chính trị-xã hội rất nhạy cảm qua các thời kỳ lịch sử có chế độ chính trị khác nhau. Tính độc tôn và tính kiêu hãnh của Thiên chúa giáo cùng những nghi thức mang tính tương khắc với văn hóa truyền thống và sự lạm dụng chính trị của các thế lực bên ngoài đối với Thiên chúa giáo là nguyên nhân dẫn đến các chính sách đối với Thiên chúa giáo của nhà cầm quyền Việt Nam trong đó có triều Nguyễn." href="../2012/02/05/2012/01/21/2012/01/09/2011/12/23/28-chinh-sach-cua-trieu-nguyen-doi-voi-thien-chua-giao/" target="_blank">28. CHÍNH SÁCH CỦA TRIỀU NGUYỄN ĐỐI VỚI THIÊN CHÚA GIÁO</a>.<strong><strong><br />
</strong></strong><strong></strong><strong></strong></p>
<p>———-</p>
<p>1. Chỉnh lý từ “Bảng thống kê, lợi dụng vốn đầu tư nước ngoài để phân biệt quốc gia (khu vực)” của trang Web Kim chỉ nam đầu tư vào Trung Quốc. Trang Web này do Bộ Thương vụ Trung Quốc lập ra</p>
<p>http://www.fdi.gov.cn/pub/FDI/wztj/wstztj/lywzfgbdqtj/default.htm</p>
<p>2. <em>Vietnam Investment Review </em>No. 693/ Jan 24-30,2005.3. Văn phòng kinh tế, văn hóa Đài Loan tại Việt Nam.http://www.teco.org.vn/9512investstatistics.xls 社會主義國家工會在中國及越南—</p>
<p><em>( Từ các chú thích thứ 3 trở đi bằng tiếng Trung, nên BBT đã bỏ để cho gọn).</em></p>
</div>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/vietsuky.wordpress.com/1620/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/vietsuky.wordpress.com/1620/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/vietsuky.wordpress.com/1620/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/vietsuky.wordpress.com/1620/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/vietsuky.wordpress.com/1620/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/vietsuky.wordpress.com/1620/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/vietsuky.wordpress.com/1620/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/vietsuky.wordpress.com/1620/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/vietsuky.wordpress.com/1620/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/vietsuky.wordpress.com/1620/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/vietsuky.wordpress.com/1620/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/vietsuky.wordpress.com/1620/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/vietsuky.wordpress.com/1620/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/vietsuky.wordpress.com/1620/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vietsuky.wordpress.com&amp;blog=29420608&amp;post=1620&amp;subd=vietsuky&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/13/67-quan-diem-lich-su-ve-cong-doan-o-cac-nuoc-xhcn-qua-khao-sat-vn-va-tq/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>7</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/c3f46a060a458b1967070ec26d4dd571?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">vietsuky</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>68. TÍNH CHẤT MỞ RỘNG LÃNH THỔ DƯỚI THỜI HẬU LÊ</title>
		<link>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/10/66-tinh-chat-mo-rong-lanh-tho-duoi-thoi-hau-le/</link>
		<comments>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/10/66-tinh-chat-mo-rong-lanh-tho-duoi-thoi-hau-le/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 10 Feb 2012 14:00:04 +0000</pubDate>
		<dc:creator>vietsuky</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sử liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Campuchia]]></category>
		<category><![CDATA[Champa]]></category>
		<category><![CDATA[Chế Mân]]></category>
		<category><![CDATA[Chiêm Thành]]></category>
		<category><![CDATA[Lào]]></category>
		<category><![CDATA[Lê Thánh Tông]]></category>
		<category><![CDATA[Thái Lan]]></category>
		<category><![CDATA[Trần Nhân Tông]]></category>
		<category><![CDATA[Trung Quốc]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vietsuky.wordpress.com/?p=1614</guid>
		<description><![CDATA[TÍNH CHẤT MỞ RỘNG LÃNH THỔ DƯỚI THỜI HẬU LÊ GS.TS. Song Jung Nam * Trường Đại học Ngoại ngữ Hàn Quốc I. MỞ ĐẦU Việc mở rộng lãnh thổ của Việt Nam được tiến hành chủ yếu về phía Nam bởi hai nguyên nhân chính là dùng triết lý sức mạnh và do yếu [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vietsuky.wordpress.com&amp;blog=29420608&amp;post=1614&amp;subd=vietsuky&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h1><span style="color:#003366;"><strong>TÍNH CHẤT MỞ RỘNG LÃNH THỔ</strong></span></h1>
<h1><span style="color:#003366;"><strong> DƯỚI THỜI HẬU LÊ </strong></span></h1>
<p><strong>GS.TS. Song Jung Nam *<br />
</strong></p>
<p><em>Trường Đại học Ngoại ngữ Hàn Quốc</em></p>
<h3><span style="color:#003366;">I. MỞ ĐẦU</span></h3>
<p><span style="color:#003366;">Việc mở rộng lãnh thổ của Việt Nam được tiến hành chủ yếu về phía Nam bởi hai nguyên nhân chính là dùng triết lý sức mạnh và do yếu tố địa chính học. Nguyên nhân thứ nhất cụ thể là sự hùng mạnh của Trung Quốc, nguyên nhân thứ hai là dãy Trường Sơn.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Với mục đích chính trị – kinh tế, khi tiến hành quá trình mở mang lãnh thổ và tăng cường sức mạnh của mình, Việt Nam đã không thể tiến lên phía Bắc vì có Trung Quốc mạnh hơn mình. Vô hình trung, Việt Nam không còn cách nào khác là phải chống lại quá trình mở mang lãnh thổ về phía Nam của Trung Quốc và kết quả là Việt Nam đã phải trải qua một quá trình lịch sử đấu tranh lâu dài.</span></p>
<p><span id="more-1614"></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Mặt khác, Việt Nam cũng đã mấy lần thử tiến về phía Tây là nước Lào với mục đích và nguyên nhân như đã nêu trên nhưng giữa hai nước có dãy núi dài hiểm trở nên không được như mong muốn. Kết quả là Việt Nam và Lào tiếp tục duy trì mối quan hệ hữu nghị truyền thống bất chấp quy luật lịch sử “giữa các nước láng giềng không có quan hệ tốt”.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Dù thế, trong lịch sử, quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Lào không hẳn đều tốt đẹp. Dưới triều đại Hậu Lê hay triều đại nhà Nguyễn, Việt Nam đã hợp nhất một phần lãnh thổ ở phía Đông Bắc Lào với vùng biên giới của mình. Tuy nhiên, mức độ và số lần căng thẳng về chính trị không nhiều và sâu sắc, đất chiếm lĩnh thì chưa được khai thác, dân số của Lào ít nên sau khi chiếm lĩnh được cũng không đủ lực lượng lao động tại chỗ để khai thác. Hơn nữa, có nhiều lý do nên không thu hút được dân nước mình khai thác vùng đất đó nên việc tiến sang Lào của Việt Nam không dễ dàng. Tương tự, triều Nguyễn đã lấy đất của Lào và nhập vào lãnh thổ của mình 6 trấn là Trấn Man, Trấn Biên, Trấn Ninh, Trấn Tĩnh, Trấn Định, Lạc Biên và rồi trả lại cho Lào khi Pháp tiến vào 2.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Vì khó tiến lên phía Tây Bắc nên Việt Nam tiến về phía Nam là một kết quả tất yếu. Ở đây, so với các nước ở phía Nam, Việt Nam chiếm ưu thế về sức mạnh, so với phía Tây Bắc thì không tồn tại trở ngại nào, sau khi chiếm lĩnh có thể khai thác mở rộng bằng lực lượng lao động phong phú tại chỗ. Không những thế, về mặt địa lý, phía Nam nối liền với đường biển rất thuận tiện nên dễ tiến hơn đường bộ. Việc chinh phục được Champa hiếu chiến là đỉnh cao của vị thế và sự phát triển của Việt Nam.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Cũng như lịch sử trường kỳ của Việt Nam, việc mở rộng lãnh thổ mất thời gian dài. Trong thời gian đó, việc mở rộng lãnh thổ bắt đầu từ triều nhà Lý. Bài nghiên cứu này xem xét việc mở rộng lãnh thổ về phía Nam của triều đại hậu Lê, thời kỳ mà công cuộc mở mang lãnh thổ được tiến hành sâu rộng và mạnh mẽ nhất trong lịch sử Việt Nam.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Nhà Lý là triều đại tồn tại lâu nhất trong lịch sử Việt Nam, ngoại trừ 100 năm hưng thịnh, còn lại đều là thời kỳ bất ổn. Việc mở rộng lãnh thổ dưới triều đại Lý được hoàn thành trong 260 năm, thời kỳ bất ổn định bởi Trịnh – Nguyễn phân tranh, tức là thời kỳ đối lập và phân chia Nam Bắc.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Tài liệu tham khảo của bài nghiên cứu này là <em>Đất nước Việt Nam qua các đời </em>của Đào Duy Anh, <em>Việt Nam quốc hiệu và cương vực qua các thời đại </em>của Nguyễn Đình Đầu, <em>Khảo sát chế độ đất đai và mở rộng lãnh thổ phía Nam Việt Nam </em>và <em>Quốc hiệu và lãnh thổ của Việt Nam </em>của Song Jung Nam 3.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Khác với các bài nghiên cứu trước, bài nghiên cứu này mang tính phức hợp và xem xét đến các vấn đề lịch sử trong giới hạn một thời đại và một chủ đề, đồng thời có mục đích phân tích tính chất thời đại trong việc mở rộng lãnh thổ – vấn đề chưa được đề cập trong các bài nghiên cứu trước. Để thực hiện mục đích này, bài viết phân chia thời kỳ trước và sau khi chúa Trịnh và chúa Nguyễn – 2 nhà quyền lực dưới 1 triều đại trong 1 quốc gia – phân tranh quyền lực và xem xét bối cảnh, quá trình triển khai, tính chất của việc mở rộng lãnh thổ trong từng thời kỳ. Ở thời kỳ trước khi Trịnh Nguyễn phân tranh, trong mối liên hệ với thời kỳ sau, chúng tôi xem xét đến thời điểm việc mở rộng lãnh thổ được triển khai; Thời kỳ sau Trịnh Nguyễn phân tranh, bài viết sẽ xem xét đến khi Pháp tiến vào ngăn chặn việc mở rộng lãnh thổ của Việt Nam.</span></p>
<h3><span style="color:#003366;">II. THỜI KỲ TRƯỚC KHI PHÂN CHIA NAM BẮC</span></h3>
<p><span style="color:#003366;">Ngay sau thời kỳ Bắc thuộc tức là sau thời kỳ thuộc địa của Trung Quốc thì ranh giới phía Nam của Việt Nam là Hà Tĩnh. Lợi dụng lúc nước Đường khó giữ được An Nam bởi tình hình hỗn loạn nghiêm trọng cuối thời Đường như sự xâm chiếm Java, Chiêm Thành, Nam Triều, Campuchia và sự nổi dậy của An Nam… cũng là lúc mà Chiêm Thành đang ở trong thời kỳ hưng thịnh mở rộng lãnh thổ từ Ai Vân (còn gọi là Hải Vân) đến Hoành Sơn, nay được phỏng đoán là đã quyết định Indrapura của huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam làm thủ đô 4.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Việc mở rộng lãnh thổ về phía Nam được bắt đầu từ thời kỳ Việt Nam có vương triều độc lập. Nhưng vì thời gian tồn tại của Ngô, Đinh, Tiền Lê ngắn và chưa được vững vàng, thiếu chuẩn bị nên lãnh thổ không có thay đổi gì kể cả phía Nam. Trong 3 triều đại kể trên thì triều đại Tiền Lê đã viễn chinh đến thủ đô của Chiêm Thành nhưng không thể mở rộng được lãnh thổ. Nhưng kể từ đấy, Chiêm Thành đã trở thành nước triều cống của Việt Nam 5.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Trong lịch sử Việt Nam, việc mở rộng lãnh thổ về phía Nam được bắt đầu từ năm 1069 dưới triều đại Lý – triều đại đầu tiên có thời gian tồn tại lâu nhất. Kết quả là Chiêm Thành đã nhường 3 châu Bố Chánh, Địa Lý, Ma Linh 6. Căn cứ vùng đất thuộc Địa Lý ở huyện Lê Ninh, tỉnh Quảng Bình, Ma Linh ở huyện Bến Hải, tỉnh Quảng Trị, Bố Chính ở huyện Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hóa tỉnh Quảng Bình thì có thể nói là triều đại Lý đã mở rộng lãnh thổ phía Nam đến tỉnh Quảng Trị ngày nay. Năm 1075, Địa Lý và Ma Linh đã đổi tên thành châu Lâm Bình và Minh Linh 7. Năm 1104, với sự xâm lược của Chiêm Thành 3 châu này bị chiếm mất nhưng ngay sau đó với sự tấn công của Lý Thường Kiệt, Việt Nam đã giành lại được 8.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Năm 1307, thông qua cuộc hôn nhân với Chế Mân –vua của Chiêm Thành, Trần Nhân Tông đã nhận được châu Ô, Lý. <em>Đại Việt sử ký toàn thư </em>có ghi “Trước đây vua Chiêm Thành là Chế Mân đem đất đó làm lễ vật dẫn cưới, dân các thôn La Thủy, Tác Hồng, Đà Bồng không phục, vua bèn sai Đoàn Nhữ Hài đến đó để tuyên thị đức ý của triều đình, chọn dân ở đấy ban cho chức quan, cấp cho ruộng vườn, miễn tô thuế 3 năm để vỗ về”9.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Trong lịch sử chinh phục Chiêm Thành của Việt Nam, việc nhận được lãnh thổ do nhà trai cho nhà gái là việc lấy lãnh thổ thông qua quan hệ hữu nghị 10. Chúng tôi sẽ đề cập sau, trong lịch sử cũng có sự kiện tương tự như thế nhưng lại kết thúc bởi sự di trú của người dân thông qua quan hệ hôn nhân. Năm sau đó, triều đại nhà Trần đã đổi vùng đất này thành Thuận Châu (bây giờ là Quảng Trị), Hóa Châu (bây giờ là Thừa Thiên Huế) 11. Triều đại nhà Trần vì phải đương đầu với 3 cuộc xâm lược kéo dài và quyết liệt của quân Mông Cổ nên cũng như các triều đại trước và sau đó, ngoài trường hợp trên, Việt Nam không nhận được một tất đất nào từ Champa. Ngược lại, do bị tổn thất nặng nề trong thời kỳ chiến tranh chống Mông Cổ và sự mạnh lên của Chiêm Thành, Thăng Long đã vài lần phải lâm vào thế tự vệ và thậm chí năm 1368 còn bị Chiêm Thành yêu cầu trả lại châu Hóa – một phần trong lãnh thổ là lễ vật hôn thú trước đây.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">“Tháng 2 năm 1368, Chiêm Thành sai Mục Bà Ma sang đòi lại đất biên giới Hóa Châu”12.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Với yêu cầu này của Chiêm Thành, trước hết nhờ sức mạnh sẵn có nhưng Việt Nam còn có tư cách đòi phạt hay bồi thường đối với một phần lễ hôn thú bị mất. Kết hôn chưa được một năm thì vua Chiêm Thành mất, theo phong tục Suttee của Ấn Độ, công chúa phải chết cùng với vua, phía Việt Nam đã dùng mưu lược phục thù nhằm cứu công chúa 13.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Việc mở rộng lãnh thổ về phía Nam cũng được tiếp tục với triều Hồ. Năm 1402, nhà Hồ xâm chiếm Chiêm Thành và nhận được Chiêm Động chia thành hai châu Thăng và Hóa; đồng thời nhận được Cổ Lũy chia thành 2 châu Tư và Nghĩa 14. Châu Thăng và Hóa ngày nay thuộc huyện Duy Sơn, Quế Sơn, Tam Kỳ Thăng Bình của tỉnh Quảng Nam, Châu Tư và Nghĩa nay thuộc huyện Đức Phổ, Mộ Đức, Tư Nghĩa, Sơn Tịnh, Bình Sơn của tỉnh Quảng Ngãi. Điều này có nghĩa là lãnh thổ phía Nam Việt Nam được mở rộng đến Quảng Nam và Quảng Ngãi.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Nhưng khi nhà Minh cai trị thì khu vực này bị Chiêm Thành chiếm lại. <em>Đại Việt sử ký toàn thư </em>có ghi “Minh Vĩnh Lạc thứ 12, Phủ Thăng Hoa tuy có đặt quan, nhưng Chiêm Thành vẫn có trưởng lộ chiếm giữ, nên nhà Minh chỉ ghi tên không mà thôi 15. Đào Duy Anh đã lấy ở <em>Hoàng Minh thực lực </em>và đưa ra bằng chứng về điều này “Năm Vĩnh Lạc thứ 13, tháng 11, vua nước Chiêm Thành là Chiêm Ba Dịch Lai… lại xâm đoạt đất 4 châu 11 huyện thuộc phủ Thăng Hoa đuổi cướp nhân dân”16.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Trong lịch sử Việt Nam, triều đại hậu Lê là triều đại có được nhiều lãnh thổ nhất. Kết quả là Việt Nam có lãnh thổ gồm phần phía Nam ngày nay. Việc mở rộng lãnh thổ của triều đại hậu Lê có thể chia thành 100 năm hưng thịnh và 260 năm suy vong. Ở chương này chủ yếu tập trung vào thời kỳ hưng thịnh.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Năm 1470, Lê Thánh Tông đem 26 vạn đại quân chiếm Chiêm Thành và năm 1471 đã lấy lại 4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa bị mất trong thời gian cai trị của nhà Minh đặt tên gọi là Quãng Nam thừa tuyên 17. Ngoài ra, qua cuộc viễn chinh này, vua Lê Thánh Tông đã chiếm được vùng đất từ Hoài Nhân đến đèo Cù Mông 18. Do đó, Việt Nam đã mở rộng lãnh thổ đến Bình Định ngày nay, và năm 1490 đưa Quảng Nam và Thăng Hoa nhập vào lãnh thổ đã chiếm được 19.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Cuộc viễn chinh lớn vào năm 1470 đã giúp cho Việt Nam sau này có bàn đạp để có thể dễ dàng hợp nhất Chiêm Thành. Ngoài lãnh thổ chiếm được, Việt Nam chia Chiêm Thành thành 3 khu vực Nam Bàn, Hoa Anh, Phiên Lung vốn đã chịu nhiều thất bại nặng nề20 để có thể dễ dàng hợp nhất khu vực này vào bất cứ lúc nào. Cụ thể là Việt Nam cho Nam Bàn nhập vào Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc; Hòa Anh vào Phú Yên, Khánh Hòa; Phiên Luân vào Ninh Thuận thuộc Phan Rang. Việt Nam đã phân ly Chiêm Thành thành 3 vùng ban sắc phong cho 3 vua và đặt nền móng cho việc hợp nhất Chiêm Thành. Ngoài ra, trong thời kỳ hưng thịnh triều đại hậu Lê cũng đã mở rộng lãnh thổ về phía Tây. Khác với cách xâm lược và hợp nhất như khi mở rộng lãnh thổ ở phía Nam, ở đây có tính chất lệ thuộc và hợp nhất nhiều hơn.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Vào năm 1353, Angcowat độc lập, ở vương quốc Lan Xang của Lào có bộ lạc Bồn Man ở khu vực trung tâm Quảng Bình thuộc Sơn La – vùng tiếp giáp với biên giới Việt Nam. Tộc họ Câm cai trị khu vực này nhiều đời và có quan hệ đối ngoại với Việt Nam từ thế kỷ 15. Năm 1447, theo đề nghị quy phục của Bồn Man, Việt Nam đã tiếp thu điều này và đổi thành châu Quy Hợp 21 nhập vào phủ Lâm An 22. Cho dù bị quy phục Việt Nam nhưng cũng như lúc quy phục Lan Xang, vùng này vẫn được công nhận là tự trị như trước23. Đất này bị hợp nhất cho đến khi Việt Nam bị Pháp xâm chiếm.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Sau vương triều độc lập, đến thời kỳ hưng thịnh của triều đại hậu Lê, việc mở rộng lãnh thổ của Việt Nam được tiến hành trong điều kiện năng lực quốc gia yếu kém. Cho dù là triều đại độc lập, nhưng thời kỳ Ngô, Đinh, tiền Lê ở trong tình thế bị đóng khung trong một quốc gia, thời nhà Trần thì tuy là một đất nước có một không hai trên thế giới có khả năng đẩy lùi quân Mông Cổ 3 lần nhưng vì hậu quả chiến tranh, gặp phải nhiều khó khăn nên không thể tiến hành mở rộng lãnh thổ bằng vũ lực.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Việc mở rộng lãnh thổ có tính cách hợp nhất vĩnh viễn đã đẩy mạnh sự phát triển của Việt Nam thông qua sự di trú của người Việt và chính sách phái quan lại người Việt làm quản lý và tiến hành Việt Nam hóa người bản địa. Với sự lệ thuộc của Bồn Man, lãnh thổ của Lào được sát nhập vào lãnh thổ Việt Nam và tuy chính sách phát triển thông qua sự di trú của người dân như ở phía Nam cho dù không được thực hiện nhưng Việt Nam phái người quản lý tới địa phương để trực tiếp quản lý đã cho thấy tính chất chiếm lĩnh vĩnh viễn ở đây. Để dàn xếp sự chống đối của Bồn Man, từ năm 1460 Lê Thánh Tông đã nhiều lần gửi quân đội đến trấn áp, thậm chí tháng 8 năm 1479 đã điều động 18 vạn đại quân bình định đến Luang Prahang 24. Năm 1474, chính sách di trú người Việt tới khu vực Chiêm Thành ra sắc chỉ rằng: Tù nhân bị tội lưu, ở châu gần thì sung làm quân vệ Thăng Hoa, ở châu ngoài thì sung làm quân vệ Tư Nghĩa, ở châu gần thì sung làm quân vệ Hoài Nhân, những kẻ được tha tội cũng sung làm quân vệ Hoài Nhân 25.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Đặc trưng của việc mở rộng lãnh thổ trong thời gian này có khác với thời kỳ suy thoái là đối tượng mở rộng lãnh thổ là ngoài một phần của Lào ra chỉ giới hạn trong khu vực Chiêm Thành. Kết quả là Chiêm Thành ở vùng đệm nên có thể duy trì quan hệ đối ngoại giữa Thái Lan, Campuchia với Việt Nam. Nhưng thời kỳ sau, đối tượng mở rộng lãnh thổ đến cả Campuchia, quan hệ giữa Việt Nam – Campuchia hay Việt Nam – Thái Lan trở thành mối quan hệ đối lập sâu sắc, thậm chí Campuchia là trục chiến lược trong sự cạnh tranh của Việt Nam và Thái Lan.</span></p>
<h3><span style="color:#003366;">III. THỜI KỲ SAU PHÂN CHIA NAM BẮC</span></h3>
<p><span style="color:#003366;">Việc mở rộng lãnh thổ trong lịch sử Việt Nam được thực hiện sôi động, nhanh và trong phạm vi rộng lớn nhất là vào thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh. Việc mở rộng lãnh thổ trong thời kỳ này hay được triển khai với mục đích cơ bản vốn có nhưng có thể thấy được sự khác nhau với thời kỳ trước ở chỗ được tiến hành trong sự chia rẽ và đối lập sâu sắc về quyền lực. Việc mở rộng lãnh thổ trong thời gian này không được triển khai qua thời gian lâu dài như thời kỳ trước mà được thực hiện trong thời gian ngắn khoảng 250 năm. Dĩ nhiên có khả năng là vì đã chuẩn bị bàn đạp trong thời kỳ trước. Giống như khi xem xét thời gian tồn tại dài hay ngắn của một vương quốc, thông qua việc mở rộng lãnh thổ cũng có thể nhìn thấy được sức mạnh của quốc gia và tổn thất của Chiêm Thành.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Một mặt, việc mở rộng lãnh thổ ở thời kỳ sau phân chia Nam Bắc được thực hiện thông qua việc hợp nhất hoàn toàn Chiêm Thành và sự mở rộng về phía Campuchia đã kéo theo sự căng thẳng sâu sắc trong quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia và dĩ nhiên ảnh hưởng tới cả quan hệ Campuchia và Thái Lan. Kết quả là ngày nay, đối ngoại giữa 3 nước, đặc biệt Việt Nam – Campuchia hay Thái Lan – Campuchia vẫn còn chịu ảnh hưởng không nhỏ 26.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Để thoát khỏi sự uy hiếp của chúa Trịnh, chúa Nguyễn đi xuống phía Nam thúc đẩy chính sách một cách năng động như chính sách đối ngoại thông thương, chính sách mở rộng lãnh thổ để xây dựng sức mạnh nhằm khôi phục quyền lực đã mất27.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Do đó, việc mở rộng lãnh thổ của chúa Nguyễn tiếp tục được thúc đẩy không quan tâm đến thời gian 7 lần phân tranh với chúa Trịnh như trích đoạn dưới đây.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">“Năm 1611, quân Chiêm Thành xâm lấn biên giới. Chúa sai chủ sự là Văn Phong (không rõ họ) đem quân đi đánh lấy được đất ấy, bèn đặt làm một phủ, cho hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa lệ thuộc vào. Nhân sai Văn Phong làm lưu thủ đất ấy28.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Sự kiện năm 1611 đã chứng minh rằng khác với thời kỳ đầu, đặc trưng của thời kỳ sau là chiếm lĩnh đồng thời sát nhập và hợp nhất lãnh thổ. Đặc trưng này cũng có thể thấy được qua sự kiện xảy ra vào năm 1653. “Vua nước Chiêm Thành là Bà Tấm quấy rối đất Phú Yên. Sai cai cơ Hùng Lộc hầu làm tổng binh và xá sai Minh võ làm tham mưu đem 3000 quân đi đánh. Đến phủ Phú Yên, ngày 3 tháng 4, nhân đêm qua đèo Hổ Dương núi Thạch Bi, ruổi thẳng đến trại của Bà Tấm, phóng lửa đánh gấp, phá tan, đuổi dài đến sông Phan Lang. Bà Tấm sai con là Xác Bà Ân nộp lễ xin hàng. Phúc Tần cho, bắt chia đại giới, lấy đất tự phía đông sông ấy đến Phú Yên đặt làm hai phủ Thái Khang và Diên Ninh, đặt dinh trấn thủ Thái Khang, phía Tây sông vẫn là nước Chiêm Thành, khiến giữ bờ cõi mà nộp cống”29 Thái Khang và Diên Ninh bây giờ là Ninh Hòa và Diên Khánh, lúc này lãnh thổ của Việt Nam được mở rộng đến Khánh Hòa.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Tháng 8 năm 1692, chúa Nguyễn chiếm Chiêm Thành và nhân cơ hội chiếm Diên Ninh của Chiêm Thành và tháng 3 năm sau đã bắt được vua Chiêm Thành là Bà Tranh. Lúc này, chúa Nguyễn đã đổi tên Chiêm Thành là Thuận Thành. Chúa Nguyễn đã sai cai đội Nguyễn Trí Thắng, cai cơ Nguyễn Tân Lễ, cai đội Chu Kiêm Thắng đến Phố Hài, Phan Rí, Phan Rang thuộc Bình Thuận ngày này để phòng ngự tàn đảng của Thuận Thành 30.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Đất nước Chiêm Thành đến bây giờ đã hoàn toàn bị biến mất trên bản đồ. Chiêm Thành đã bị hợp nhất hoàn toàn vào Việt Nam năm 1697 nhưng trên thực tế, với tư cách là một quốc gia thì đã bị xóa bỏ vào năm 1693.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">“Tháng 8 năm 1693, đổi trấn Thuận Thành làm phủ Bình Thuận, lấy tả trà viên Kế Bà Tử làm khám lý, ba người con Bà Ân làm đề đốc, đề lãnh và cai phủ, bắt mặc quần áo theo lối người kinh và sai về để vỗ yên lòng dân”31 Việc lấy người Chiêm Thành cai trị người Chiêm Thành thế này là hình thức mà lịch sử Việt Nam đã đối xử với tất cả các dân tộc thiểu số từ trước đến nay. Công nhận sự tự trị nhưng có nghĩa là tự trị dưới cơ cấu cai trị dạng piramid trong quốc gia. Do đó, kể từ bây giờ Chiêm Thành đã trở thành một dân tộc thiểu số của Việt Nam.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Nhưng việc loại trừ hoàn toàn Chiêm Thành làm chúa Nguyễn gặp nhiều khó khăn và trở thành gánh nặng. Từ tháng 12 năm 1693 đến tháng 2 năm sau, người Thanh A Ban và người Chiêm Thành Oc Nha That liên kết với nhau gây ra phản loạn ở Thuận Thành; Tháng 9 năm 1695 người lái buôn Lính đã liên kết Quy Ninh và Quảng Phú ở Quảng Ngãi gây phản loạn; tháng 3 năm 1697, 5 sách huyện Phú Vang nổi dậy… là những ví dụ có thật gây khó khăn cho chúa Nguyễn32.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Sau khi chiếm Chiêm Thành vào năm 1693, chúa Nguyễn đã thi hành một số chính sách để giảm thiểu gánh nặng và những mối lo lắng đó. Thứ nhất, hợp nhất hoàn toàn đất chiếm lĩnh Thuận Thành vào lãnh thổ của mình, đặt theo hình thức trấn hơn là đơn vị hành chính. Cho dù đã đặt lãnh, phủ, huyện, tổng, tư là đơn vị hành chính địa phương đối với khu vực đồng bằng của chúa Nguyễn lúc đó nhưng chúa Nguyễn đã không áp đặt mà đặt Thuận Thành là trấn. Đây cũng là hình thức cai trị dân tộc thiểu số trong quá khứ. Do đó, ngoài việc dùng phương pháp cực đoan là đàn áp phản loạn, vào tháng 8 năm 1693, chúa Nguyễn đã đổi trấn Thuận Thành thành phủ Bình Thuận rồi tháng năm năm sau lại đổi thành trấn Thuận Thành33.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Thứ hai, như đã viết ở trên, chúa Nguyễn đã thi hành chính sách đồng hóa hay lấy người Chiêm Thành cai trị người Chiêm Thành. Với phương pháp cụ thể hơn đối với điều này chúa Nguyễn đã dùng Kế Ba Tư làm tả đô đốc của phủ Thuận Thành và tiếp tục cai trị nơi này, đã nộp cống ông ta bởi phiên vương của trấn Thuận Thành và thu thập quân dân nộp cống hằng năm, và đã trả lại những vật lấy được trong cuộc chiến như ấn, gươm, yên, ngựa và những người bị bắt trước đây. Lúc này chúa Nguyễn đã chỉ định những danh sách nộp cống cho Việt Nam là voi đức 2 thớt, bò vàng 20 con, ngà voi 6 cái, sừng tê 10 tòa, khăn vải trắng 500 bức, sáp ong 50 cân, da cá 20 tấm, cát sủi 400 thúng, chiếu tre trắng 500 lá, gỗ mun 200 cây, thuyền dài 1 chiếc34.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Việc quy định đối với các vật nộp cống và dâng phiên vương có thể nói là một điển hình trong việc nâng cao vị thế so với các nước nhỏ xung quanh của Việt Nam. Cho đến bây giờ khi xem xét đến thông lệ ban sắc phong cho các tù trưởng các dân tộc thiểu số thì có thể thấy đó là mắt xích trong chính sách hợp nhất Chiêm Thành như đã nêu. Khi so sánh thời gian tồn tại hay diện tích lãnh thổ, chính sách thôn tính một quốc gia có thế lực không thua kém mình là một sách lược chính trị khổ nhục.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Nhưng vào năm 1697, Việt Nam đổi trấn Thuận Thành thành Bình Thuận và sát nhập vào một đơn vị hành chính của Việt Nam đồng thời hợp nhất lãnh thổ còn lại của Chiêm Thành từ Phan Rang đến Phan Rí đổi thành 2 huyện An Phuc và Hoa Da rồi sát nhập vào Bình Thuận nên dấu tích của Chiêm Thành hoàn toàn đã bị xóa bỏ trên bản đồ35.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Việc hợp nhất hoàn toàn Chiêm Thành thể hiện sự vững vàng của một quốc gia thống trị nhưng cũng cho thấy đây là một mắt xích trong việc thực hiện ý định hợp nhất Campuchia có chung đường biên giới. Kể từ trước đó rất lâu, khi trấn Thuận Thành và Phan Rang, Phan Rí vẫn còn là khu vực tự trị của Chiêm Thành, sự tiến vào Campuchia của Việt Nam đã được thúc đẩy qua việc lợi dụng những người di cư của nước Minh để phát triển lãnh thổ Campuchia nhưng lúc này thì Việt Nam không còn lý do gì để tiếp tục giữ chế độ tự trị ở khu vực này. Việc chia rẽ mục đích chính sách này mất cân bằng đối với nhiều dân tộc thiểu số và dân tộc Khơme của Campuchia.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Tham vọng mở rộng lãnh thổ của Chúa Nguyễn không dừng lại ở Chiêm Thành. Điều đó có thể nhìn thấy được vào năm 1621, chúa Nguyễn đã có quan hệ hôn thú với đời thứ 2 Chey Chettha của Campuchia36. Lúc đó, chúa Nguyễn đã yêu cầu vua Campuchia cho người Việt Nam di trú tự nhiên, di trú Thủy Chấn Lạp với những hình thức miễn thuế, thương mại, phát triển. Kết quả là việc di trú đến Campuchia của người Việt Nam được bắt đầu từ tỉnh Đồng Nai và Mỗi Xoài thuộc Bà Rịa, Vũng Tàu bây giờ 37.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Lúc đó Campuchia lệ thuộc vào vương quốc Ayuthaya của Thái Lan đã mượn sức mạnh của Việt Nam để thoát khỏi sự cai trị của Thái, Việt Nam đã có được cơ hội tiến vào Campuchia một cách hợp pháp và đồng thời trên cơ sở đó, đã có được cơ hội tuyệt vời để có thể cản trở sự tiến vào Campuchia của Thái và xâm chiếm lãnh thổ Campuchia38. Sau đó, dưới chính sách ngoại giao cận Việt viễn Thái của Campuchia (chữ Hán), năm 1658, lần đầu tiên Việt Nam có cơ hội gửi quân đội theo yêu cầu của Campuchia để giải quyết phân tranh vương vị và kết quả là nhận được sự cư trú hợp pháp ở Mỗi Xoài, Đồng Nai và nộp cống, thần phục từ Campuchia39.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Vào năm 1674, Việt Nam đã gửi quân đội đến Campuchia lần thứ hai để giải quyết tranh chấp vương vị và có thể bước một bước sâu hơn vào việc hợp nhất lãnh thổ Campuchia bằng cách đặt ra chế độ chính vương và phó vương (chữ Hán). Lúc này, phó vương sống ở Sài Gòn. Trên cơ sở này, vào tháng 1 năm 1679 Việt Nam đã đem 50 chiến thuyền với hơn 3 nghìn quân, lợi dụng những người quản lý của nước Minh Trung Quốc đầu hàng như Dương Ngan Địch, Hoàng Tiến, Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình … tiến hành thực hiện việc phát triển Mỹ Tho và Biên Hòa40. Những khu vực này là kết quả chiến thắng trong cuộc phân tranh vũ lực với Thái trên lãnh thổ Campuchia của Việt Nam, vì một phần thuộc khu vực mà Nạc Ông Nộn được bổ nhiệm cai trị, nên Việt Nam có thể định cư ở đó. Năm 1679, do chính vương và phó vương của Campuchia xung đột, Việt Nam và Thái đều gửi quân đội can thiệp nên chiến tranh đã xảy ra, Việt Nam đã hoàn toàn không thể đưa ra các giải quyết vấn đề này.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Những người có thế lực khai phá đất, xây dựng thành Đông Phố và biến nơi đây thành nơi thương mại quốc tế đông đúc với những chiếc thuyền của nhà Thanh – phương Tây – Nhật – Java. Thời điểm này, có thể nói ngoài người Việt Nam ra, người Trung Quốc cũng phát triển Thủy Chân Lạp. Vào năm 1680, việc phát triển Thủy Chân Lạp dựa vào Mạc Cửu người Quảng Đông Trung Quốc. Ông ta được bổ nhiệm làm quản lý của Campuchia và đã phát triển Phú Quốc, Cần Bọt, Gia Khê, Luỗng Cây, Hương Úc, Cà Mau41. Ở đây, vào năm 1810 đã đổi thành trấn Hà Tiên rồi năm 1831 đổi thành tỉnh Hà Tiên.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Năm 1688, với cuộc phản loạn của Hoàng Tiến đã trở thành cơ hội cho Việt Nam thực hiện hợp nhất lãnh thổ Campuchia. Hoàng Tiến gây ra phản loạn, quốc vương của Campuchia Nặc Ông Thu đã từ chối thần phục và nộp cống cho Việt Nam và dương ngọn cờ phản loạn. Việt Nam đã gửi quân vào Sài Gòn để bình định việc này nhưng không thành công. Tuy nhiên, trong trong một thời gian dài nắm giữ, Việt Nam thực sự đã có ảnh hưởng ở khu vực này. Tiếp đó, năm 1691, người có thực quyền ở đây là phó vương Nặc Ông Nộn tử vong đã tạo ra một khoảng trống quyền lực đã xúc tiến quá trình hợp nhất của Việt Nam ở khu vực này. Trên cơ sở đó, từ năm 1698, bắt đầu hợp nhất khu vực Gia Định khai thác được dựa vào người Trung Quốc và người bản xứ trước đây.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Năm 1698 là năm sau khi Việt Nam hoàn toàn hợp nhất Chiêm Thành. Điều này rất quan trọng vì thể hiện được tính quan hệ tương hỗ trong việc hợp nhất Chiêm Thành và Campuchia của Việt Nam. Tức là, trước năm 1698, Việt Nam có thể lợi dụng khoảng trống cai trị của Campuchia trên mảnh đất do người Trung Quốc và người bản xứ khai phát và hợp nhất nhưng trong khi chưa hợp nhất hoàn toàn Chiêm Thành nên có thể gặp nhiều khó khăn; hoặc trong trường hợp đã hợp nhất hoàn toàn Chiêm Thành nhưng có khả năng xảy ra phản loạn và chống đối nên có thể cho rằng sức lực sẽ bị phân tán nên đã không thực hiện và chuẩn bị cho đến năm 1698 mới tiến hành hợp nhất Campuchia.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">“Bắt đầu đặt phủ Gia Định. Sai thống suất Nguyễn Hữu Kính kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phúc Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, mỗi dinh đều đặt các chức lưu thủ, cai bạ, ký lục và cơ độ thuyền thủy bộ tinh binh và thuộc binh. Mở rộng đất được nghìn dặm, được hơn 4 vạn hộ, bèn chiêu mộ những dân xiêu dạt từ Bố Chính trở về nam cho đến ở cho đông. Thiết lập xã thôn phường ấp, chia cắt giới phận, khai khẩn ruộng nương, định lệ thuế to dung, làm sổ đinh điền. Lại lấy người Thanh đến buôn bán ở xã Minh Hương. Từ đó người Thanh ở buôn bán đều thành dân hộ của ta”42.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Nội dung trên cho thấy việc hợp nhất lãnh thổ Campuchia của Việt Nam khác với phương pháp hợp nhất Chiêm Thành trong thời kỳ trước. Khi hợp nhất lãnh thổ của Chiêm Thành, đa số dùng phương pháp chiếm bằng vũ lực nhưng khi hợp nhất lãnh thổ Campuchia thì lợi dụng người trong nước hay người nước ngoài trước hết là khai thác rồi lợi dụng khi quyền lực cai trị của Campuchia yếu đi thì hợp nhất một cách tự nhiên. Không những thế, ở đây còn cho thấy sự ưu tiên phương pháp nhận lãnh thổ bằng cách hỗ trợ giải quyết nội chiến của Campuchia hơn là dùng vũ lực trực tiếp.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Vào năm 1708, Mạc Cửu cảm thấy bất an với nội tình của Campuchia, nhờ thần phục Việt Nam mới có được đường biên giới của Campuchia bây giờ còn Việt Nam thì có được khu vực ở phía cực nam bao gồm đảo Phú Quốc, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu43. Khu vực này là một trong 6 tỉnh thuộc tỉnh Hà Tiên thời nhà Nguyễn. Điều này cũng như đã đề cập ở trên cho thấy hình thức hợp nhất không liên quan đến vũ lực của Việt Nam.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Do đó, trong 6 tỉnh, Việt Nam đã hợp nhất 3 tỉnh là Biên Hòa, Gia Định, Hà Tiên. Ba tỉnh còn lại vẫn trong tình trạng chưa hợp nhất được là Định Tường, Vĩnh Long, An Giang. Ba tỉnh này ở trong địa thế hình răng cưa, nằm xem kẽ giữa hai tỉnh Biên Hòa – Gia Định và tỉnh Hà Tiên. Vì thế, để bảo tồn tỉnh Hà Tiên ở vị trí xa nên việc hợp nhất 3 tỉnh còn lại là một việc cần thiết. Do đó qua 3 lần liên tiếp thực hiện hợp nhất, khu vực này được hợp nhất với phương pháp khác với trước đây là bằng vũ lực.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Lần thứ 1, năm 1732, Việt Nam đã gửi quân đội tới, lấy Mỹ Tho, Sa Đéc ở phía Tây Gia Định, và đặt châu Định Viễn, lĩnh Long Hồ44. Những khu vực này thuộc tỉnh Định Tường. Những khu vực này bây giờ thuộc tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp. Với cơ hội này, vào năm 1744 chúa Nguyễn đã xác lập khu vực hành chính với cơ cấu 12 lĩnh và 1 trấn45.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Lần thứ 2 cũng dành được thành quả bằng vũ lực. Chúa Nguyễn đã hai lần viễn chinh Campuchia vào năm 1753 và 1755 do hiệp ước quan hệ của chúa Trịnh và YuRin Côn Man của Nạc Ông Nguyên là vua Campuchia. Lúc này Nạc Ông Nguyên tị nạn ở Hà Tiên và năm 1756, đưa Mạc Thiên Tứ đề nghị thần phục và nộp cống cho chúa Nguyễn và đã dâng 2 phủ Tam Bon, Loi Lap46. Nơi này giáp với tỉnh Định Tường thuộc tỉnh Vĩnh Long.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Lần cuối cùng, năm 1757, trong quá trình lên ngôi, vua Cao Miên nhận sự giúp đỡ đã nhận từ Nạc Ông Tôn 2 phủ Trà Vinh, Ba Thắc và Tầm Phong Long47. Trong 6 tỉnh, những khu vực này thuộc tỉnh An Giang. Do đó, Việt Nam đã xác lập được lãnh thổ phía Nam bây giờ.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Đối với sự kiện của năm 1757, khi xem xét biên giới lãnh thổ Việt Nam qua ghi chép là “Năm 1757, Nạc Ông Nguyên nước Chân Lạp chết. Người chú họ là Nạc Nhuân Tạm coi việc nước. Biên thần tâu xin nhân đó lập Nhuận để tỏ ân nghĩa, cho vững biên cương. Chúa bắt phải hiến hai phủ Trà Vinh, Ba Thắc, rồi sau mới y cho …”48 chúng ta có thể thấy rõ hơn. Nói cách khác, cho dù đã hợp nhất Định Tường và Vĩnh Long nhưng dưới thời chúa Nguyễn, không có tỉnh An Giang nên Châu Đốc, Cần Thơ, Sóc Trăng có địa thế như răng rụng nên Việt Nam cần có được vùng này với cái giá là phải can thiệp chính trị.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Ngoài ra, cùng năm 1757, Việt Nam đã được vua Camphuchia Nạc Ông Tôn dâng 5 phủ Hương Úc, Cần Bọt, Chân Sum, Sài Mạt, Linh Quỳnh49. Khu vực này tiếp giáp với Hà Tiên nhưng trong thời gian vua Tự Đức tại vị đã trả lại cho Campuchia50.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Việc mở rộng lãnh thổ phía Nam của chúa Nguyễn đã gặp phải một số yếu tố nên phải tạm dừng ở đây. Thứ nhất, do sức lực quốc gia của chúa Nguyễn bị yếu đi nên không đủ nội lực để mở rộng lãnh thổ hơn nữa. Thứ hai, trong thời gian ngắn không đủ năng lực để khai thác quản lý lãnh thổ tăng nhiều51.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Việc mở rộng lãnh thổ về phía nam của Việt Nam cũng được tiếp tục dưới triều đại cuối cùng trong lịch sử Việt Nam là triều đại nhà Nguyễn. Như đã đề cập ở trên, Việt Nam đã hợp nhất một phần lãnh thổ của Lào tiếp giáp với khu vực từ Quảng Bình tới Lạng Sơn, đã gửi quân đi 6 phủ và bổ nhiệm làm tộc trưởng ở đây theo hình thức cai trị gián tiếp. Khi xem xét đến nhiều điều kiện như chính trị – kinh tế – địa chính học, Việt Nam tiếp tục thúc đẩy hợp nhất Cao Miên để dành lợi cho quốc gia, và kết quả là năm 1835, Chân Lạp – quốc hiệu của Cao Miên đã đổi thành Chân Tây Thành và lập 2 huyện, 32 phủ52. Nhưng cuộc xung đột dành quyền cai trị Campuchia giữa Việt Nam và Thái kéo dài, cộng với việc phản đối sự cai trị của Việt Nam trên toàn Campuchia và các cuộc phản loạn trong nước nên đã đẩy Việt Nam vào thế bất lợi. Cho nên, năm 1847, Việt Nam đã ký hiệp định với Thái và rút quân. Do đó, cho đến khi Việt Nam và Campuchia đều trở thành thuộc địa của Pháp thì Campuchia chỉ duy trì mối quan hệ nộp cống cho Việt Nam53. Qua đây, có thể thấy việc mở rộng lãnh thổ của Việt Nam được điều khiển bởi Thái và Pháp. Nếu giả định trường hợp Pháp không tiến hành xâm lược hay không có mâu thuẫn với Thái thì Việt Nam đã có được một vùng rộng lớn trong lãnh thổ của Lào và Campuchia.</span></p>
<h3><span style="color:#003366;">IV. KẾT LUẬN</span></h3>
<p><span style="color:#003366;">Việc mở rộng lãnh thổ của Việt Nam cho thấy một quy luật điển hình trong lịch sử nhân loại là cá lớn nuốt cá bé. Việt Nam đã không ngừng đấu tranh trong trường kỳ lịch sử để sinh tồn bên cạnh một Trung Quốc mạnh hơn mình nhưng ngược lại cũng tiến hành chinh phục Chiêm Thành và Campuchia yếu hơn. Điều này thể hiện hai mặt trong đặc trưng lịch sử của Việt Nam là chủ nghĩa dân chủ đấu tranh và chủ nghĩa dân chủ xâm lược.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Việt Nam đã trải qua quá trình dân chủ đấu tranh và bồi dưỡng sức mạnh quốc gia rồi trên cơ sở đó hướng đến chủ nghĩa dân chủ xâm lược và kết quả là xác lập được lãnh thổ phía Nam bây giờ.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Việc mở rộng lãnh thổ về phía Nam đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là trong việc sản xuất ngũ cốc. Ngoài khí hậu nhiệt đới gió mùa có lượng mưa và lượng nắng nhiều thì vùng này còn có tài nguyên phong phú và đất đai màu mỡ và rộng lớn.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Ở đây cũng không thể bỏ qua sự đóng góp của người dân di trú Trung Quốc. Trong khi không đủ nhân lực phát triển thì việc tham gia của người dân Trung Quốc đã giảm bớt đi gánh nặng cho người dân Việt Nam, thúc đẩy sự phát triển thương mại của phía Nam và đã tăng cường tính đặc trưng đa văn hóa – đa dân tộc của Việt Nam.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Liên quan đến việc tăng cường tính đặc trưng đa văn hóa – đa dân tộc của Việt Nam không thể loại trừ vai trò của Campuchia. Việc hợp nhất Thủy Chân Lạp tức 6 tỉnh phía Nam dành được ngoài mảnh đất màu mỡ và rộng lớn còn có được dân tộc Khơme đông nhất trong 54 dân tộc đã biến Việt Nam từ một nước có văn hóa Phật giáo Đại thừa sang một nước văn hóa Phật giáo Tiểu thừa.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Đồng thời, việc mở rộng lãnh thổ của Việt Nam cũng là một trường hợp điển hình minh chứng cho quy luật lịch sử “giữa các nước láng giềng không có quan hệ tốt ”. Nếu như quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc mới được tái lập vào năm 1991 thì quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Campuchia cũng không được mặn mà khi 20 vạn quân Việt Nam rút lui khỏi Campuchia dưới áp lực của chủ nghĩa tư bản đứng đầu là Mỹ vào năm 1989. Quan hệ giữa Việt Nam và Thái cũng đối lập sâu sắc trong việc gây ảnh hưởng trên đất Campuchia. Xét trên quan điểm địa chính học, quan hệ giữa Việt Nam và Lào có thể là một dị biệt nhưng xét cho cùng thì có thể cũng không khác với những mối quan hệ nước láng giềng đã nêu trên.</span></p>
<p>————-</p>
<p>2 Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, <em>Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, </em>T.III, Nxb Giáo dục, H.1961, p.484.</p>
<p>3 Đào Duy Anh, <em>Đất nước Việt Nam qua các đời</em>, Nxb Văn hóa, H.2006; Nguyễn Đình Đầu, <em>Việt Nam quốc hiệu và cương vực qua các thời đại</em>, Nxb BT, 2003; Song Jung Nam, <em>A study on the land system and territorial expansion in southern part of Vietnam: from the mid – 16 century to 18 century </em>SHPS T 36, 1999; Song Jung Nam, <em>The Name and Territory of Vietnam </em>NCĐNA 16 – 2, 2007.</p>
<p>4 Đào Duy Anh, <em>Đất nước Việt Nam qua các đời</em>, Sđd, p.227.</p>
<p>5 <em>Đại Việt sử ký toàn thư, </em>T.I, Nxb KHXH, H.1998, p.228 tham khảo; <em>Đại Việt sử ký tiền biên</em>, Nxb KHXH, H.1997, p.174 tham khảo; Song Jung Nam, <em>Lịch sử Việt Nam</em>, Nxb ĐHPS, 2001, p.134.</p>
<p>6 <em>Đại Việt sử ký toàn thư, </em>T.I, Sđd, pp.274 – 275; <em>Đại Việt sử ký tiền biên</em>, Sđd, p.238; <em>Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, </em>T.I, Nxb KHXH, H.1977, p.32; Trần Trọng Kim, <em>Việt Nam sử lược</em>, Nxb VHTT, H.1999, p.107; Song Jung Nam, <em>The Name and Territory of Vietnam </em>NCĐNÁ 16 – 2, 2007, p.106.</p>
<p>7 <em>Đại Việt sử ký toàn thư, </em>T.I, Sđd, p.278; <em>Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục </em>T.I, Sđd, p.32.</p>
<p>8 <em>Đại Việt sử ký toàn thư, </em>T.I, Sđd, p.284; <em>Đại Việt sử ký tiền biên</em>, Sđd, p.546; <em>Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, </em>T.I, Sđd, p.32.</p>
<p>9 <em>Đại Việt sử ký toàn thư, </em>T.II, Nxb KHXH, H.1998, p.91; <em>Đại Việt sử ký tiền biên</em>, Sđd, p.407; <em>Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, </em>T.I, Sđd, p.32.</p>
<p>10 Jung Nam, <em>The Name and Territory of Vietnam </em>NCĐNÁ 16 – 2, 2007, p.107.</p>
<p>11 <em>Đại Việt sử ký toàn thư, </em>T.II, Sđd, p.91; <em>Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, </em>T.I, Sđd, p.32.</p>
<p>12 <em>Đại Việt sử ký toàn th,ư </em>T.II, Nxb KHXH, 1998, p.145; <em>Đại Việt sử ký tiền biên</em>, Sđd, p.458 tham khảo.</p>
<p>13 <em>Đại Việt sử ký toàn thư</em>,T.II, Sđd, p.91; Trần Trọng Kim, <em>Việt Nam sử lược</em>, Sđd, p.170.</p>
<p>14 <em>Đại Việt sử ký toàn thư, </em>T.II, Sđd, pp.202 – 203; <em>Đại Việt sử ký tiền biên</em>, Sđd, p.512; Đào Duy Anh, <em>Đất nước Việt Nam qua các đời</em>, Sđd, p.127; <em>Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục </em>T.I, Sđd, p.35.</p>
<p>15 <em>Đại Việt sử ký toàn thư, </em>T.II, Sđd, p.235; <em>Đại Việt sử ký tiền biên</em>, Sđd, p.546; <em>Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục </em>,T.I, Sđd, pp.37 – 38 tham khảo.</p>
<p>16 Đào Duy Anh, <em>Đất nước Việt Nam qua các đời</em>, Sđd, p.168.</p>
<p>17 <em>Đại Việt sử ký toàn thư, </em>T.II, Sđd, pp.441 – 452; <em>Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục </em>T.I, Sđd, p.43.</p>
<p>18 Phan Huy Lê, <em>Lịch sử chế độ phong keiens Việt Nam, </em>T.II, Nxb GD, 1960, p.182; <em>Đại Việt sử ký toàn thư </em>T.II, Sđd, p.464.</p>
<p>19 <em>Đại Việt sử ký toàn thư, </em>T.II, Sđd, p.507.</p>
<p>20 <em>Đại Việt sử ký toàn thư, </em>T.II, Sđd, p.450; <em>Việt sử thông giám cương mục, </em>T.XI, Nxb Văn Sử Địa, 1959, pp.68 – 69; <em>Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, </em>T.I, Sđd, p.43.</p>
<p>21 <em>Đại Việt sử ký toàn thư, </em>T.II, Sđd, p.363 tham khảo.</p>
<p>22 Đào Duy Anh, <em>Đất nước Việt Nam qua các đời</em>, Sđd, p.199.</p>
<p>23 Phan Huy Lê, <em>Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, </em>T.II, Sđd, p.174 – 177.</p>
<p>24 <em>Đại Việt sử ký toàn thư, </em>T.II, Sđd, p.477.</p>
<p>25 <em>Đại Việt sử ký toàn thư, </em>T.II, Sđd, p.464.</p>
<p>26 Song Jung Nam, <em>Quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan thời kỳ truyền thống, </em>Hội thảo khoa học 2007 của hội Việt Nam học Hàn Quốc, 2007, p.44.</p>
<p>27 Song Jung Nam, <em>A Study on the Development Factor of Trade in Dang Trong in 16th – 18th centuries </em>NCĐNÁ 14 – 1, 2004, p.133.</p>
<p>28 <em>Đại Nam thực lực tiền biên, </em>T.I, Nxb Sử học, 1962, pp.43 – 44.</p>
<p>29 <em>Đại Nam thực lực tiền biên, </em>T.I, Sđd, p.83; <em>Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, </em>T.I, Sđd, p.56 tham khảo.</p>
<p>30 <em>Đại Nam thực lực tiền biên, </em>T.I, Sđd, p.147; Phan Khoang<em>, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777</em>, nhà sách Khai Trí, 1969, pp.217 – 218.</p>
<p>31 <em>Đại Nam thực lực tiền biên, </em>T.I, Sđd, p.148.</p>
<p>32 <em>Đại Nam thực lực tiền biên, </em>T.I, Sđd, pp.148 – 153.</p>
<p>33 <em>Đại Nam thực lực tiền biên, </em>T.I, Sđd, p.150.</p>
<p>34 <em>Đại Nam thực lực tiền biên, </em>T.I, Sđd, pp.150 – 151; Phan Khoang<em>, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777</em>, Sđd, pp.217 – 218.</p>
<p>35 <em>Đại Nam thực lực tiền biên, </em>T.I, Sđd, p.153.</p>
<p>36 Lê Nguyễn, <em>Xã hội Đại Việt qua bút ký của người nước ngoài</em>, Nxb VN TP HCM, 2004, p.174; Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, <em>Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam</em>, T.III, Sđd, p.105; Song Jung Nam, <em>Quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan thời kỳ truyền thống, </em>Bđd, p.43.</p>
<p>37 Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, <em>Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam</em>, Sđd, pp.105 – 106; Phan Khoang<em>, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777</em>, Sđd, pp.400 – 402.</p>
<p>38 Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, <em>Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam</em>, Sđd, p.105; Yu In Sun, <em>Lịch sử Việt Nam viết mới</em>, Nxb Y San, 2002, 219 tham khảo.</p>
<p>39 Trịnh Hoài Đức, <em>Gia Định thành thông chí</em>, Nxb Giaos dục, H.1998, pp.74 – 75; <em>Đại Nam thực lực tiền biên, </em>T.I, Sđd, p.98 tham khảo; <em>Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập</em>, Nxb Thuận Hóa, 1993, p.542; <em>Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, </em>T.I, Sđd, p.58 tham khảo.</p>
<p>40 <em>Đại Nam thực lực tiền biên, </em>T.I, Sđd, p.125; <em>Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập</em>, Sđd, p.542; <em>Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, </em>T.I, Sđd, p.62 tham khảo.</p>
<p>41 <em>Đại Nam thực lực tiền biên, </em>T.I, Sđd, p.167.</p>
<p>42 <em>Đại Nam thực lực tiền biên, </em>T.I, Sđd, pp.153 – 154; <em>Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập</em>, Sđd, p.542 tham khảo.</p>
<p>43 <em>Đại Nam thực lực tiền biên, </em>T.I, Sđd, p.167; Song Jung Nam, <em>A study on the land system and territorial expansion in southern part of Vietnam: from the mid – 16 century to 18 century </em>SHBS T 36, 1999, p.57.</p>
<p>44 <em>Đại Nam thực lực tiền biên, </em>T.I, Sđd, 1962, p.195; Trịnh Hoài Đức, <em>Gia Định thành thông chí</em>, Sđd, p.78; p.241; Đào Duy Anh, <em>Đất nước Việt Nam qua các đời</em>, Sđd, p.241; Phan Khoang<em>, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777</em>, Sđd, p.232.</p>
<p>45 <em>Đại Nam thực lực tiền biên, </em>T.I, Sđd, 1962, p.208.</p>
<p>46 <em>Đại Nam thực lực tiền biên, </em>T.I, Sđd, p.224; <em>Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập</em>, Sđd, p.544; Trịnh Hoài Đức, <em>Gia Định thành thông chí</em>, Sđd, p.78; <em>Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục </em>T.I, Sđd, p.69; Phan Khoang<em>, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777</em>, Sđd, p.242.</p>
<p>47 <em>Đại Nam thực lực tiền biên, </em>T.I, Sđd, p.226; <em>Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập</em>, Sđd, p.544; Trịnh Hoài Đức, <em>Gia Định thành thông chí</em>, Sđd, pp.79 – 80; Phan Khoang<em>, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777</em>, p.242; Song Jung Nam, <em>A study on the land system and territorial expansion in southern part of Vietnam: from the mid – 16 century to 18 century </em>SHBS T 36, 1999, p.58.</p>
<p>48 <em>Đại Nam thực lực tiền biên, </em>T.I, Sđd, pp.225 – 226; Trịnh Hoài Đức, <em>Gia Định thành thông chí</em>, Sđd, p.79; <em>Đại Việt sử ký tục biên 1676 – 1789</em>, Nxb KHXH, 1991, pp.257 – 258.</p>
<p>49 <em>Đại Nam thực lực tiền biên, </em>T.I, Sđd, p.226; <em>Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập</em>, Sđd, p.544; Trịnh Hoài Đức, <em>Gia Định thành thông chí</em>, Sđd, p.79, p.80.</p>
<p>50 Đào Duy Anh, <em>Đất nước Việt Nam qua các đời</em>, Sđd, p.243.</p>
<p>51 Song Jung Nam, <em>The Name and Territory of Vietnam </em>NCĐNA 16 – 2, 2007, p.110.</p>
<p>52 Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, <em>Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam</em>, T.III, Sđd, p.479.</p>
<p>53 Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, <em>Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam</em>, T.III, Sđd, p.481.</p>
<p>——–</p>
<p>* <strong><strong>Ghi chú của Ba Sàm: </strong></strong>Tham luận được phổ biến tại HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển”, đã được đưa lên trang Ba Sàm từ năm 2010, nhưng do bị tin tặc phá, xóa mất, nay đưa lên lại. Mời xem thêm các bài viết về cuộc hội thảo này trên BBC (riêng trang web của Hội thảo có lẽ đã bị gỡ bỏ): + <a href="http://www.bbc.co.uk/vietnamese/specials/170_viet_studies/" target="_blank">Việt Nam học trong thế kỷ 21</a>; + <a href="http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/12/081204_vietnam_study_blog.shtml" target="_blank">Thăm ban tổ chức hội thảo VN học lần ba</a>; + <a href="http://www.bbc.co.uk/vietnamese/culture/story/2008/11/081119_vu_minh_giang.shtml" target="_blank">Nghiên cứu Việt học ‘không độc quyền</a>‘;  + <a href="http://www.bbc.co.uk/vietnamese/indepth/story/2008/12/081214_viet_expansion_history.shtml" target="_blank">Đánh giá lịch sử mở rộng lãnh thổ của Việt Nam</a>; + <a href="http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/12/081209_hochiminh_rethinking.shtml" target="_blank">Kiến giải của một người Nhật về ông Hồ</a>;  +  <a href="http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/12/081206_lehai_vietstudies.shtml" target="_blank">Chủ tịch VN nói chuyện với học giả nước ngoài</a> và <strong>các tham luận đã đăng lại trên Việt Sử Ký</strong>:  +  <a title="Permanent link to 65. THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM THẾ KỶ XI – XIII DƯỚI THỜI LÝ" href="../2012/02/05/61-the-che-chinh-tri-o-viet-nam-the-ky-xi-xiii-duoi-thoi-ly/" rel="bookmark" target="_blank">65. THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM THẾ KỶ XI – XIII DƯỚI THỜI LÝ</a>;+  <strong><a title="Sửa “60. ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO PHẬT ĐỐI VỚI CHÍNH TRỊ TRIỀU LÝ”" href="../2012/02/05/61-the-che-chinh-tri-o-viet-nam-the-ky-xi-xiii-duoi-thoi-ly/post.php?post=1436&amp;action=edit">60. ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO PHẬT ĐỐI VỚI CHÍNH TRỊ TRIỀU LÝ</a></strong>; +  <strong><a title="Sửa “57. VĂN HÓA VIỆT NAM:TOÀN CẦU HÓA VÀ THỊ TRƯỜNG”" href="../2012/02/05/61-the-che-chinh-tri-o-viet-nam-the-ky-xi-xiii-duoi-thoi-ly/post.php?post=1418&amp;action=edit">57. VĂN HÓA VIỆT NAM:TOÀN CẦU HÓA VÀ THỊ TRƯỜNG</a></strong>; + <a title="Nguyễn Thị Lệ Hà *  Viện Sử học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam  1. Vài nét về thân thế của Nguyễn Văn Vĩnh  Nguyễn Văn Vĩnh sinh ngày 30 tháng 4 năm Nhâm Ngọ, (tức ngày 15.6.1882), tại số nhà 46 phố Hàng Giấy, Hà Nội, nguyên quán làng Phượng Dực, thuộc phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay là huyện Phú Xuyên). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, đông con ở vùng đồng chiêm trũng, quanh năm đói kém, nên bố mẹ ông phải bỏ quê ra Hà Nội kiếm sống. Tám tuổi ông làm nghề kéo quạt ở trường Thông ngôn của Pháp mở tại đình Yên Phụ.  Năm 11 tuổi nhờ chăm chỉ và ham học ông được Hiệu trưởng D’Argence đồng ý cho dự thi tuyển vào lớp thông ngôn tập sự ngạch Tòa công sứ, niên khóa 1893-1895. Ông đỗ thứ 12 trong tổng số 40 học sinh. Ông đã đỗ thủ khoa khi mới 13 tuổi và được tuyển làm phiên dịch của Tòa công sứ Lào Cai, Tòa công sứ Hải Phòng, sau lại làm thông ngôn ở Tòa công sứ Bắc Giang (từ 1902-1905)." href="../2012/01/24/56-nguyen-van-vinh-voi-bao-chi-va-chu-quoc-ngu/" target="_blank">56. NGUYỄN VĂN VĨNH VỚI BÁO CHÍ VÀ CHỮ QUỐC NGỮ</a>; + <a title="PGS.TS. Chương Thâu, Viện Sử học *   Khoảnh khắc giao thời giữa hai thế kỷ (XIX và XX) ở vùng Đông Á lúc bấy giờ diễn ra nhiều sự kiện trọng đại, nhất là ở Nhật và ở Trung Quốc. Vận động duy tân ở Nhật Bản, bắt đầu tới Minh Trị Thiên hoàng, đưa đến kết quả rực rỡ. Nước Nhật tiến lên thành một cường quốc, đánh thắng được nước Nga. Cả thế giới, đặc biệt là Đông Á và Đông Nam Á, thừa nhận là nhờ có duy tân, nước Nhật mới đạt được thành tựu lớn như vậy. Vận động duy tân ở Trung Quốc, bắt đầu với vua Quang Tự, gặp sự cản trở của thế lực phong kiến, rồi sự xâu xé của các liệt cường, trải nhiều biến cố mới đi đến cuộc Cách mạng Tân Hợi. Nhưng chính cuộc vận động này đã dồn dập xuất hiện rất nhiều tác phẩm lý luận chính trị xã hội, làm cho giới nho sĩ ở Trung Quốc sực tỉnh, chuyển biến theo đường lối mới, và ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nước ở trong vùng. Cả khu vực Đông Á đang bắt đầu thức tỉnh, trong đó có Việt Nam." href="../2012/01/22/54-phong-trao-duy-tan-dau-the-ky-xx/" target="_blank">54. PHONG TRÀO DUY TÂN ĐẦU THẾ KỶ XX</a>; + <a title="ThS. Tống Thị Quỳnh Hương *  Đại học Sư phạm Hà Nội  Đặt vấn đề Người Trung Hoa đến Việt Nam khá sớm, ít nhất cũng vào khoảng đầu Công nguyên. Trải qua nhiều thế kỉ, người Hoa đã xuất hiện trên khắp ba miền của nước ta, tuy nhiên, những người Hoa di cư đến miền Bắc chủ yếu là quan lại và binh lính của các đội quân xâm lược nhiều hơn là thương nhân đến buôn bán (ngoại trừ một bộ phận người Hoa ở Phố Hiến, Thăng Long), do vậy ở miền Bắc nước ta, những cộng đồng người Hoa thường nhỏ lẻ, không có quy mô lớn và tiêu biểu như ở miền Trung và miền Nam. Cũng như người Hoa ở các nước Đông Nam Á khác, người Hoa đến Việt Nam trải qua một quá trình sinh sống và buôn bán lâu dài, họ đã lập nên những làng, những phố của mình, hình thành nên những cộng đồng người Hoa ổn định và phát triển, trở thành một bộ phận cư dân của cộng đồng dân tộc Việt. Trong khoảng từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX, cùng với sự hình thành các cộng đồng người Hoa, ở miền Trung và Nam Việt Nam cũng đã xuất hiện nhiều đô thị, trung tâm thương mại rất sầm uất với vai trò nổi bật của các Hoa thương. Những đô thị này đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế nước ta trong nhiều thế kỉ. Một số đô thị như: Thanh Hà, Bao Vinh, Cù Lao Phố, Hội An, Chợ Lớn… đã trở thành những trung tâm buôn bán, trung chuyển hàng hóa quan trọng trong khu vực và quốc tế." href="../2012/01/21/53-nguoi-hoa-trung-nam-bo-vnxvii-xix/?preview=true" target="_blank">53. NGƯỜI HOA TRUNG-NAM BỘ VN (XVII-XIX)</a>;  + <a title="Sửa “52. QUAN HỆ VIỆT NAM – LIÊN XÔ 1965 – 1975”" href="../2012/02/05/2012/01/20/52-quan-he-viet-nam-lien-xo-1965-1975/?preview=true" target="_blank">52. QUAN HỆ VIỆT NAM – LIÊN XÔ 1965 – 1975</a>;  +  <a title="TS Châu Thị Hải *  Viện Khoa học xã hội Việt Nam  Trong cuộc Hội thảo Việt Nam học lần thứ nhất được tổ chức tại Hà Nội vào mùa thu năm 1998, tôi đã có dịp đưa ra thảo luận vấn đề: Diễn biến địa lý và lịch sử trong quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hoá Việt – Hoa. Tôi có dự định sẽ thảo luận những vấn đề tiếp theo như: người Hoa với quá trình hình thành và phát triển các đô thị thương mại ở Việt Nam; người Hoa với các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc; với quá trình đổi mới đất nước; đặc biệt trong xu thế hội nhập khu vực và thế giới hiện nay,… tại cuộc hội thảo Việt Nam học lần thứ hai. Nhưng đáng tiếc là thời gian đó tôi chưa có cơ hội để tham gia." href="../2012/02/05/2012/01/09/41-nguoi-hoa-trong-lich-su-viet-nam/" target="_blank">41. NGƯỜI HOA TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM</a>; +<a title="PGS TS. Phạm Duy Nghĩa *  Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội  Phó Giáo Sư Tiến Sĩ Phạm Duy Nghĩa tốt nghiệp Đại học Leipzig (Đức) và bảo vệ luận án TS luật năm 1991 tại đây.Hơn 10 năm học tập và giảng dạy tại các nước Mỹ, Nhật.  Tóm tắt/Từ khoá: Di sản dân luật Pháp, điều kiện du nhập pháp luật thành công, thất bại của cuộc du nhập dân luật Pháp, du nhập pháp chế xã hội chủ nghĩa, những cuộc chuyển đổi hướng tới luật pháp hỗ trợ, tạo điều kiện cho nền kinh tế thị trường, pháp luật và tự do phát triển, tự quản địa phương" href="../2012/02/05/2012/01/21/2012/01/08/40-tu-nha-nuoc-toan-tri-toi-thoi-dai-dan-doanh-gia-tai-cua-60-nam-luat-hoc-viet-nam/" target="_blank"> 40. TỪ NHÀ NƯỚC TOÀN TRỊ TỚI THỜI ĐẠI DÂN DOANH: GIA TÀI CỦA 60 NĂM LUẬT HỌC VIỆT NAM</a>; + <a title="“Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam có hiến pháp nhưng hiến pháp không được quan niệm như chủ nghĩa hợp hiến là một công cụ để giới hạn quyền lực của nhà nước. Thay vào đó, hiến pháp được hiểu có tính giai cấp, là công cụ thực hiện quyền lực của giai cấp công nhân. Hiến pháp không phải là một bản văn trung lập mà có định hướng rõ rệt: điều tiết chính quyền để đạt tới xã hội chủ nghĩa.”" href="../2012/02/05/2012/01/21/2012/01/09/2012/01/07/39-chu-nghia-hop-hien-o-vn/" target="_blank">39. CHỦ NGHĨA HỢP HIẾN Ở VN</a>; + <a title="ThS. Lê Tiến Công *  Đại học Phan Châu Trinh, Quảng Nam  Đặt vấn đề  Trong định hướng phát triển vùng của Chính phủ giai đoạn 2001-2010, khu vực biển và hải đảo được xác định: “tiến mạnh ra biển và làm chủ vùng biển. Phát triển tổng hợp kinh tế biển và ven biển, khai thác lợi thế của các khu vực cửa biển, hải cảng để tạo thành vùng phát triển cao, thúc đẩy các vùng khác. Xây dựng căn cứ hậu cần ở một số đảo để tiến ra biển khơi. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo vệ an ninh trên biển”1. Điều đó cho thấy vị thế quan trọng của biển, đảo trong chiến lược phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng." href="../2012/02/05/2012/01/21/2012/01/06/38-tuan-tra-kiem-soat-vung-bien-thoi-nguyen-so1802-1858/" target="_blank">38. TUẦN TRA, KIỂM SOÁT VÙNG BIỂN THỜI NGUYỄN SƠ:1802-1858</a>; + <a title="GS. Yu Insun Đại học Quốc gia Seoul * 1. Lời nói đầu  Lịch sử Việt Nam trong giai đoạn hai nghìn năm trước cận đại không thể lí giải chính xác nếu không gắn với quan hệ về mặt chính trị với Trung Quốc. Chúng ta có thể hiểu về điều này một cách dễ dàng từ quan hệ hai nước được trình bày dưới đây.  Từ cuối thế kỷ thứ II trước Công nguyên đến nửa đầu thế kỷ thứ X sau CN, Việt Nam chịu sự thống trị trực tiếp của Trung Quốc trong một nghìn năm cho đến khi giành được độc lập. Một nghìn năm này trong lịch sử Việt Nam thường được gọi là “thời kì Bắc thuộc”. Từ sau khi thoát khỏi ách thống trị của Trung Quốc giành độc lập vào nửa đầu thế kỷ thứ X đến trước khi rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp vào nửa sau thế kỷ XIX, trong một nghìn năm, Việt Nam đã thiết lập quan hệ triều cống dưới hình thái nước phiên thuộc của Trung Quốc, vừa duy trì quan hệ thân thiện về chính trị vừa đồng thời tiếp nhận văn hóa Trung Quốc trong “trật tự thế giới kiểu Trung Hoa”, theo cách nói của người Trung Quốc." href="../2012/02/05/2012/01/21/2012/01/09/2011/12/29/33-lich-su-quan-he-viet-nam-trung-quoc-the-ky-xix-the-che-trieu-cong-thuc-va-hu/" target="_blank">33. LỊCH SỬ QUAN HỆ VIỆT NAM-TRUNG QUỐC THẾ KỶ XIX THỂ CHẾ TRIỀU CỐNG, THỰC VÀ HƯ</a>;  + <a title="Ths. Phạm Thị Thanh Huyền Khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm Hà Nội *  Đặt vấn đề  Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, hầu hết các tôn giáo lớn trên thế giới đều có mặt ở đây (Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành giáo…). Trong quá trình phát triển đạo ở Việt Nam, các tôn giáo đã trở thành cầu nối tiếp xúc văn hoá, vì tôn giáo bản thân nó cũng chính là một thành tố của văn hoá. Do đó, không thể phủ nhận vai trò đặc biệt quan trọng của tôn giáo đối với sự phát triển của văn hoá Việt Nam." href="../2012/02/05/2012/01/21/2012/01/09/2011/12/23/29-mot-so-dong-gop-cua-thien-chua-giao-doi-voi-van-hoa-viet-nam-the-ky-xvii-dau-the-ky-xx/" target="_blank">29. MỘT SỐ ĐÓNG GÓP CỦA THIÊN CHÚA GIÁO ĐỐI VỚI VĂN HOÁ VIỆT NAM (THẾ KỶ XVII – ĐẦU THẾ KỶ XX)</a>; + <a title="PGS.TS. Đỗ Bang *  Trường Đại học Khoa học Huế  Thiên Chúa giáo du nhập vào Việt Nam từ năm 1533, đây không chỉ là vấn đề thuần túy của tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa mà là vấn đề chính trị-xã hội rất nhạy cảm qua các thời kỳ lịch sử có chế độ chính trị khác nhau. Tính độc tôn và tính kiêu hãnh của Thiên chúa giáo cùng những nghi thức mang tính tương khắc với văn hóa truyền thống và sự lạm dụng chính trị của các thế lực bên ngoài đối với Thiên chúa giáo là nguyên nhân dẫn đến các chính sách đối với Thiên chúa giáo của nhà cầm quyền Việt Nam trong đó có triều Nguyễn." href="../2012/02/05/2012/01/21/2012/01/09/2011/12/23/28-chinh-sach-cua-trieu-nguyen-doi-voi-thien-chua-giao/" target="_blank">28. CHÍNH SÁCH CỦA TRIỀU NGUYỄN ĐỐI VỚI THIÊN CHÚA GIÁO</a>.<strong><strong><br />
</strong></strong></p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/vietsuky.wordpress.com/1614/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/vietsuky.wordpress.com/1614/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/vietsuky.wordpress.com/1614/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/vietsuky.wordpress.com/1614/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/vietsuky.wordpress.com/1614/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/vietsuky.wordpress.com/1614/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/vietsuky.wordpress.com/1614/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/vietsuky.wordpress.com/1614/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/vietsuky.wordpress.com/1614/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/vietsuky.wordpress.com/1614/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/vietsuky.wordpress.com/1614/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/vietsuky.wordpress.com/1614/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/vietsuky.wordpress.com/1614/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/vietsuky.wordpress.com/1614/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vietsuky.wordpress.com&amp;blog=29420608&amp;post=1614&amp;subd=vietsuky&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/10/66-tinh-chat-mo-rong-lanh-tho-duoi-thoi-hau-le/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>5</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/c3f46a060a458b1967070ec26d4dd571?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">vietsuky</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>67. Mậu Thân- Huế, đi tìm những phản đề</title>
		<link>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/08/67-mau-than-hue-di-tim-nhung-phan-de/</link>
		<comments>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/08/67-mau-than-hue-di-tim-nhung-phan-de/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 08 Feb 2012 02:38:34 +0000</pubDate>
		<dc:creator>vietsuky</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sử liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Trao đổi]]></category>
		<category><![CDATA[Cộng sản]]></category>
		<category><![CDATA[Giải Khăn Sô cho Huế]]></category>
		<category><![CDATA[Hoàng Phủ Ngọc Phan]]></category>
		<category><![CDATA[Hoàng Phủ Ngọc Tường]]></category>
		<category><![CDATA[Mỹ]]></category>
		<category><![CDATA[MTDTGPMNVN]]></category>
		<category><![CDATA[Nguyễn Đắc Xuân]]></category>
		<category><![CDATA[QLVNCH]]></category>
		<category><![CDATA[Thảm sát Tết Mậu Thân]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vietsuky.wordpress.com/?p=1637</guid>
		<description><![CDATA[RFA- Đài Á châu Tự do Mậu Thân- Huế, đi tìm những phản đề Tường An, thông tín viên RFA 2012-02-07 Trận chiến Mậu Thân vẫn là một trải nghiệm nghịch lý giữa hai miền Nam Bắc khi nhìn lại con người và sự kiện. Trên Wikipedia, cuộc chiến về Tết Mậu Thân vẫn có [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vietsuky.wordpress.com&amp;blog=29420608&amp;post=1637&amp;subd=vietsuky&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a title="Mậu Thân- Huế, đi tìm những phản đề Tường An, thông tín viên RFA 2012-02-07  Trận chiến Mậu Thân vẫn là một trải nghiệm nghịch lý giữa hai miền Nam Bắc khi nhìn lại con người và sự kiện. Trên Wikipedia, cuộc chiến về Tết Mậu Thân vẫn có hai định đề khác nhau. " href="http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/hue-massacre-the-contradictory-facts-02072012171606.html" target="_blank">RFA- Đài Á châu Tự do</a></p>
<h1><span style="color:#003366;">Mậu Thân- Huế, đi tìm những phản đề</span></h1>
<h5>Tường An, thông tín viên RFA</h5>
<h5>2012-02-07</h5>
<p><span style="color:#003366;">Trận chiến Mậu Thân vẫn là một trải nghiệm nghịch lý giữa hai miền Nam Bắc khi nhìn lại con người và sự kiện. Trên Wikipedia, cuộc chiến về Tết Mậu Thân vẫn có hai định đề khác nhau.</span></p>
<div style="text-align:center;"><a href="http://vietsuky.files.wordpress.com/2012/02/1.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-1638" title="1" src="http://vietsuky.files.wordpress.com/2012/02/1.jpg" alt="" width="305" height="227" /></a>Hài cốt nạn nhân bị tàn sát tập thể- Wiki-Commons photo</div>
<div id="story_body"><span id="more-1637"></span><br />
<span style="color:#003366;">Trong khi một trang đặt tên là &#8220;Thảm sát Huế Tết Mậu Thân&#8221; đưa lên những con số về các nạn nhân đã bị giết hoặc chôn sống trong các hố chôn tập thể thì ở một trang khác của Wikipedia được gọi rất nhẹ nhàng là &#8220;Sự kiện tết Mậu Thân&#8221; chỉ nói đến nguyên nhân, quá trình cũng như kết quả của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1968.Trang “Thảm sát Tết Mậu Thân” gọi cuộc thảm sát này là “hành động tàn bạo ở quy mô lớn đã được thi hành ở Huế và vùng lân cận trong 4 tuần do quân giải phóng miền Nam chiếm giữ”  Còn trang “Sự Kiện Tết Mậu Thân”  lại cho rằng “số đông thường dân bị giết chết trong cuộc chiếm lại thành phố Huế bởi đạn pháo kích của Mỹ”</span><span style="color:#003366;">.</span></p>
<div>
<div style="text-align:center;"><a href="http://vietsuky.files.wordpress.com/2012/02/2.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-1639" title="2" src="http://vietsuky.files.wordpress.com/2012/02/2.jpg" alt="" width="250" height="365" /></a>Vợ khóc chồng- quanvan.net photo</div>
</div>
<p><span style="color:#003366;">Ngay cả những con số về cả các chiến binh tử trận cũng không thống nhất. Trang “Thảm sát Tết Mậu Thân” cho biết  “Quân đội Hoa Kỳ và QLVNCH chịu khoảng 4 ngàn 400 lính thương vong và MTDTGPMNVN cũng tổn thất trên 4 ngàn quân” thì ở trang “Sự Kiện Tết Mậu Thân” lại đưa ra bảng thống kê với 44 ngàn 824 bộ đội chết và 4 ngàn 511 mất tích.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Về số thường dân bị chết trong Tết Mậu Thân Huế, số liệu từ các nguồn khác nhau cũng  không thống nhất. Có nguồn nói là 6 ngàn 700, có nguồn lại đưa ra con số 7 ngàn 600 người chết.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Biến cố Mậu Thân đã ghi lại một vết chém lịch sử trong lòng người dân cố đô. Cư sĩ Trí Lực, người đã chôn cất những xác chết nằm lại sau biến cố Mậu Thân không bao giờ quên được nổi kinh hoàng lúc đó:</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>“Khi đó tôi đang ở chùa Thiên Mụ, tôi về thăm gia đình ngày mùng một Tết, dân  chúng cố đô Huế ăn Tết bình thường, nhưng khuya mùng một rạng mùng hai Tết thì tôi thấy bộ đội Cộng Sản miền Bắc lũ lượt từng đoàn kéo nhau vào.<br />
</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Vùng tôi ở là Tây Lộc, họ đi vào cửa Chánh Tây nườm nượp. Đúng vào ngày hôm sau thì máy bay hai bên giáp chiến. Cà nông, đại bác diễn ra một trận chiến tranh kinh hoàng. Tôi và gia đình đi tản ở vùng Tây linh, cách vùng Tây lộc khoảng 2 cây số. Trên đường đi tản cư thì tôi thấy rất nhiều xác chết của bộ đội miền Bắc cũng như dân chúng và binh lính Việt nam Cộng Hòa.<br />
</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Hai mươi sáu ngày sau, sau khi cố đô Huế bình định trở lại thì tôi tận mắt chứng kiến những hầm chôn tập thể được khai quật lên từ vùng Bãi Dâu Gia Hội, những người xấu số đã bị trói quật lại sau lưng và có những mảnh xương sọ bị vỡ nát. Cảnh kinh hoàng là cảnh Cộng sản đã chôn sống bao nhiêu người dân vô tội.<br />
</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Khi đó tôi theo hầu Thầy làm lễ cầu siêu  thì tôi chứng kiến hàng trăm cỗ quan tài được khai quật lên từ Bãi Dâu Gia Hội, Sau đó làm một đám tang tập thể đưa từ trường trung học Gia Hội lên nghĩa trang Ba Đồn. Khi đó tôi thấy một cuộc chiến tranh hết sức là kinh hoàng. Bây giờ bốn năm mươi năm nhớ lại tôi vẫn còn in rõ mồn một trong trí của tôi. Thật là một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn”  </em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Nhà văn Đinh Lâm Thanh, hiện sống tại Pháp, cũng là chứng nhân của biến cố Mậu Thân:</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>“Gia đình của tôi của vùng Phủ cam là một, vùng An vân thượng là hai, Gia Hội là ba. Bà con xa bà con gần của bên họ ngoại của tôi là gồm cả thảy 12 người. Trong 12 người đó, có người bị chôn sống, có người bị bắn tại chổ, có người bị chặt đầu, có người bị mổ bụng” </em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Cho đến nay vẫn còn có những nghi vấn về trách nhiệm của những người đã nhúng tay vào cuộc thảm sát Mậu Thân Huế. Hai trong những người được nhắc đến nhiều nhất là hai người con của Huế: Hoàng Phủ Ngọc Tường (HPNT) và Nguyễn Đắc Xuân (NĐX)</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Trong một dịp đến Pháp năm 1997 ông HPNT đã trả lời phỏng vấn của bà Thụy Khuê <em>:“Trong “Giải Khăn Sô cho Huế” * Nhã Ca nói rằng Phủ (tức HPNT) không về Huế và nếu có về thì cũng không giết người,  thành thật cám ơn chị Nhã ca đã dành cho tôi điều thành thật rất quan trọng này”</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Và ông tiếp:</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>“Đã không có mặt thì làm sao tôi – HPNT- lại có thể làm cái việc ghê gớm gọi là “đồ tể” Mậu Thân ở Huế được”</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Đúng thế, ở chương 7 của “Giải khăn sô cho Huế&#8221;, nhà văn Nhã ca có viết <em>“Tôi hỏi gặng mãi em gái tôi có nhìn thấy Phủ không. Có ai nhìn thấy Phủ không? Nó quả quyết là nó không thấy, cả bạn bè của nó đi họp cũng nói không thấy. Tôi hơi yên tâm và mừng thầm cho kẻ phản bội” </em></span></p>
<div>
<div style="text-align:center;"><a href="http://vietsuky.files.wordpress.com/2012/02/3.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-1640" title="3" src="http://vietsuky.files.wordpress.com/2012/02/3.jpg" alt="" width="200" height="160" /></a>Những hài cốt chưa nhận ra căn cước- WikiCommons photo</div>
<div style="text-align:center;"></div>
</div>
<p><span style="color:#003366;">Trong một bài phỏng vấn do phóng viên Dương Minh Long thực hiện cách đây 4 năm mà trang nhân dân VN đã đăng lại, ông Nguyễn Đắc Xuân khẳng định HPNT không hề có mặt ở Huế mùa Xuân 1968:<em>“Nhiều dư luận và cả sách báo lâu nay ngộ nhận rằng nhà giáo Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có mặt ở Huế trong tết Mậu Thân 1968. Nhân đây tôi xin đính chính: Suốt thời gian chiến dịch mở ra, nhà giáo (nay là nhà văn) Hòang Phủ Ngọc Tường đều ở tại địa đạo Khe Trái trong vùng núi phía tây huyện Hương Trà để làm việc với các vị nhân sĩ trong Mặt trận Liên Minh chứ không hề bước chân về chiến trường Huế. Cho nên tất cả những “thông tin” nói nhà giáo Hòang Phủ Ngọc Tường làm việc này việc nọ ở Huế trong những ngày tết Mậu Thân 1968 đều là thông tin bịa đặt”</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Ông Hoàng Phủ Ngọc Tường là thầy dạy Việt văn trung học của ông Nguyễn Phúc Liên Thành, theo ông Liên Thành thầy giáo HPNT dạy môn Triết và Việt văn rất giỏi, ông giảng rất hay và không bao giờ nhìn vào sách. Ông Liên Thành rất ngưỡng mộ thầy giáo HPNT. Ông Liên Thành nguyên là Trưởng ty Cảnh sát Đặc biệt trong những năm 68. Ông đưa ra 4 bằng chứng để chứng minh ông HPNT đã có mặt ở Huế vào Tết Mậu Thân :</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>“Tôi xin đưa ra 4 trường hợp để chứng minh HPNT đã không thành thật về việc nói y không có mặt tại Huế trong dịp Tết Mậu Thân :<br />
Thứ nhất, năm 72 tôi bắt được tên trung tá điệp viên Hoàng Kim Loan, chính Hoàng Kim Loan khai rằng y và Hoàng Lanh như là Hoàng Phương Thảo là Ủy viên thành phố Huế. Khi thành lập tòa án Nhân dân tại Huế thì chính ba cán bộ thành ủy này đã đề cử HPNT vào ghế Chánh án tòa án Nhân dân tại trường trung học Bãi Dâu Huế.<br />
</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Cái thứ hai, theo lời tường trình của một số nhân chứng xác nhận rằng kẻ ngồi xử tại tòa án Nhân dân Huế tại trường trung học Gia Hội vào năm 1968 và kết quả sau đó chúng tôi đã khai quật 204 xác nạn nhân tại trường trung học. Cái người ngồi xử đó chính là giáo sư Hoàng Phủ Ngọc Tường nguyên là giáo sư về môn Triết và Việt văn ở Huế.<br />
</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Cái xác nhận thứ ba: Định là sinh viên y khoa năm thứ hai Huế, cũng là bạn của Hoàng Phủ Ngọc Phan, em HPNT, xác nhận rằng, trong những ngày đầu của Tết Mậu Thân thì chính HPNT và HPNP đã đến nhà ông Định ở đường Nguyễn Du để tìm bắt ông Định. Chính HPNT đứng ở ngoài và HPNP vào nhà để tìm bắt nhưng cha ông Định đã nói một cách để che chở, cuối cùng ông Định trốn trong nhà mà không bị bắt.<br />
</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Nhưng cái điều quan trọng là chính HPNT đã xác nhận có mặt trong thời gian biến cố Mậu Thân xảy ra. HPNT có trả lời phỏng vấn với một nhà làm phim Mỹ, phim “VietNam Television History” của ông Burchett. Y nói rằng  y đã từng đứng ngay trong một bệnh viện tại vùng Gia Hội, bệnh viện này đã bị Mỹ thả bom và trong đêm đó y dẵm lên một vũng bùn, y tưởng đó là bùn, khi mà y bật đèn thì thấy toàn là máu cả. Điều đó cho thấy sự hiện diện của HPNT tại bệnh viện ở trường trung học Gia Hội”</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Riêng về sinh viên Nguyễn Đắc Xuân, năm 66 là trưởng đoàn thanh niên quyết tử và năm 68 là trưởng đoàn Thanh niên vũ trang thành phố Huế còn gọi là Lực lượng an ninh và bảo vệ khu phố. Trong giải khăn sô cho Huế, nhà văn Nhã ca có nhắc đến sinh viên NĐX đã giết một người tên là Mậu Tý, ông Liên Thành cũng khẳng định chi tiết này:</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>“Nguyễn Đắc Xuân sử dụng hầu hết các cơ sở nằm vùng, chia ra từng toán, lục soát từng nhà một tìm bắt ngụy quân, ngụy quyền và nhiều cuộc xử bắn đã xảy ra.<br />
</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Sau này NĐX có chối tội nói rằng là trong trận đánh Huế thì tôi ở tuyến sau chứ không ở tuyến đầu. Nhưng nhiều nhân chứng đã kể lại những hành động dã man của NĐX trong đó NĐX đã bắn người bạn rất thân của nó là sinh viên Lê Mậu Tý vì nghi Lê Mậu Tý làm việc cho cơ quan tình báo của Việt Nam Cộng hòa hoặc là đảng viên đảng Đại Việt.<br />
</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Ngoài ra những cuộc hành quyết tại quận nhất, quận nhì và quận ba đều là do lực lượng an ninh bảo vệ khu phố của NĐX thi hành. Như bà Thái Hòa đã nói chính HPNP và NĐX đã bắn hai người anh của cô ta và bắn luôn ông nội của cô ta trước sự chứng kiến của bà Nguyễn thị Thái Hòa.<br />
</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>ôi hy vọng một ngày rất gần, Ban Truy tố tội ác đảng CS do tôi đang lập hồ sơ để truy tố những tên này ra tòa án Quốc tế để nó phải trả lời trước dư luận Quốc tế và mong rằng đem lại sự công bằng, công đạo cho những người đã chết trong Mậu thân 68 Huế”</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Câu hỏi vẫn thường được đặt ra là : Ai là kẻ thắng, người thua sau cuộc chiến này?</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Quân lực VNCH và đồng minh đã thắng vì đã đánh bật quân Bắc Việt ra khỏi Sài Gòn và Huế.  Hay quân đội Bắc Việt đã thắng vì sau tổng tiến công Mậu Thân, VNDCCH đã áp lực được Mỹ ngồi vào bàn hội nghị? Trong cuộc chiến này, có lẽ không có kẻ thắng hay người thua mà chỉ có người dân là nạn nhân, oằn mình chịu đựng bao nỗi oan nghiệt của chiến tranh.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Nhà báo Bùi Tín, nguyên phó Tổng biên tập báo QĐND, cho biết quan điểm của ông:</span><br />
<span style="color:#003366;"> <em>“Mậu thân thì tôi đang công tác ở Hà Nội. Riêng về Tết Mậu thân thì ý kiến của tôi như thế này: Cuộc tổng tiến công và nổi đạy của phía Bắc Việt là thất bại nặng nề. Tất cả các đơn vị đều bị đánh ra khỏi các đô thị. Với cái tổn thất mà đến 2 năm sau mới phục hồi được, như vậy đánh giá về thực chất thì Bắc Việt đã thất bại rất nặng nề, do chủ quan, do không nổi dậy, do có tập kích rộng rãi những không giữ được do đó thiệt hại rất nặng đến 2, 3 năm sau.<br />
</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Các cơ sở lộ hết, nhất là ở đô thị cơ sở mất hết và ở nông thôn cũng mất từng mảng lớn và phải tạt qua tận Cam-bốt. Do đó mà phía đồng minh đã thắng, nhưng đã không duy trì được chiến thắng, tình báo kém lại bị cái tuyên truyền phản chiến ở Mỹ thổi phồng chiến thắng của Việt Cộng lên nên Quốc hội Mỹ rút khỏi chiến tranh VN.<br />
</em></span></p>
<p><em><span style="color:#003366;">Do đó mà chiến thắng không được phát huy. Thực chất là chiến thắng nhưng lại chuyển thành thất bại. Chiến tranh là thất bại của nhân dân cả hai phía. Tôi thấy là cuộc chiến tranh này là cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn mà trong lịch sử chưa bao giờ mà cả hai bên chết đến như thế.</span><br />
</em></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Sinh mạng chết nhiều như thế mà nếu đất nước thống nhất mà có Tự do, Dân chủ thì đó cũng là điều an ủi. Đằng này tổn thất đến như thế, hòa bình trở lại, thống nhất được đất nước mà cũng không có hạnh phúc, không có hòa hợp dân tộc, cái tội của đảng Cộng sản rất là lớn, rất là nặng nề là như thế&#8221;</em>           </span></p>
<div>
<div style="text-align:center;"><a href="http://vietsuky.files.wordpress.com/2012/02/4.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-1641" title="4" src="http://vietsuky.files.wordpress.com/2012/02/4.jpg" alt="" width="250" height="200" /></a>Khai quật xác người bị CS tàn sát- Wiki-Commons photo</div>
</div>
<p><span style="color:#003366;">Trả lời nhà phê bình văn học Thụy Khuê về trách nhiệm thuộc về ai cho cuộc thảm sát ở Huế, HPNT cho biết ông Lê Minh, tư lệnh chiến dịch Huế Mậu Thân nói rằng:</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>“Trách nhiệm đó thuộc về những người lãnh đạo mặt trận Mậu Thân…. Điều quan trọng có thể làm và phải làm bây giờ, là những người kế nhiệm ở Huế phải thi hành chính sách minh oan cho những gia đình nạn nhân Mậu Thân Huế, trả lại công bằng trong sáng và những quyền công dân chính đáng cho thân nhân của họ”</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Trong khi chờ đợi những thân nhân của những nạn nhân Mậu Thân Huế được trả lại công bằng và quyền công dân như nguyên Tư lệnh chiến dịch Huế Mậu Thân đã nói thì xin coi những hồi tưởng này, theo lời của nhà văn Nhã Ca, như <em>“một bó nhang đèn góp giỗ. Và góp cho một ngày giỗ tương lai tại quê hương, nơi từng biết thế nào là tình yêu thương, sự ăn ở tử tế, như từng biết thế nào là văn hóa, lịch sử&#8221; </em></span></p>
</div>
<p>Copyright © 1998-2011 Radio Free Asia. All rights reserved.</p>
<p>&#8211;</p>
<p>* Mời xem thêm: <a title="Giải khăn sô cho Huế" href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=6221&amp;rb=08" target="_blank">Giải Khăn Sô cho Huế</a> &#8211; (<a href="http://basam-news.info/nph-index.cgi/00/http/www.talawas.org/talaDB/showFile.php=3fres=3d6221=26rb=3d08" target="_blank">talawas</a>)<em>.</em></p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/vietsuky.wordpress.com/1637/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/vietsuky.wordpress.com/1637/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/vietsuky.wordpress.com/1637/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/vietsuky.wordpress.com/1637/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/vietsuky.wordpress.com/1637/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/vietsuky.wordpress.com/1637/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/vietsuky.wordpress.com/1637/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/vietsuky.wordpress.com/1637/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/vietsuky.wordpress.com/1637/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/vietsuky.wordpress.com/1637/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/vietsuky.wordpress.com/1637/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/vietsuky.wordpress.com/1637/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/vietsuky.wordpress.com/1637/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/vietsuky.wordpress.com/1637/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vietsuky.wordpress.com&amp;blog=29420608&amp;post=1637&amp;subd=vietsuky&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/08/67-mau-than-hue-di-tim-nhung-phan-de/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>63</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/c3f46a060a458b1967070ec26d4dd571?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">vietsuky</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://vietsuky.files.wordpress.com/2012/02/1.jpg" medium="image">
			<media:title type="html">1</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://vietsuky.files.wordpress.com/2012/02/2.jpg" medium="image">
			<media:title type="html">2</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://vietsuky.files.wordpress.com/2012/02/3.jpg" medium="image">
			<media:title type="html">3</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://vietsuky.files.wordpress.com/2012/02/4.jpg" medium="image">
			<media:title type="html">4</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>66. Ngoại giao để giữ đất dưới thời vua Lý Nhân Tông</title>
		<link>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/07/66-ngoai-giao-de-giu-dat-duoi-thoi-vua-ly-nhan-tong/</link>
		<comments>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/07/66-ngoai-giao-de-giu-dat-duoi-thoi-vua-ly-nhan-tong/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 07 Feb 2012 14:00:34 +0000</pubDate>
		<dc:creator>vietsuky</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sử liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Trao đổi]]></category>
		<category><![CDATA[Lê Văn Thịnh]]></category>
		<category><![CDATA[Lý Nhân Tông]]></category>
		<category><![CDATA[Lý Thường Kiệt]]></category>
		<category><![CDATA[nhà Tống]]></category>
		<category><![CDATA[Quách Quỳ]]></category>
		<category><![CDATA[Quảng Tây]]></category>
		<category><![CDATA[Tống Thần Tông]]></category>
		<category><![CDATA[Trung Hoa]]></category>
		<category><![CDATA[Đại Việt]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vietsuky.wordpress.com/?p=1625</guid>
		<description><![CDATA[Ngoại giao để giữ đất dưới thời vua Lý Nhân Tông Ngọc Thu * 17-01-2010 Do điều kiện địa lý nước ta nằm sát ngay bên dưới nước láng giềng phương Bắc, nên suốt chiều dài lịch sử, nước Việt đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh lớn nhỏ, cùng nhiều lần tranh chấp đất [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vietsuky.wordpress.com&amp;blog=29420608&amp;post=1625&amp;subd=vietsuky&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h1><span style="color:#003366;"><strong>Ngoại giao để giữ đất dưới thời vua Lý Nhân Tông</strong></span><strong> </strong></h1>
<p><strong>Ngọc Thu *<br />
</strong></p>
<p>17-01-2010<br />
<span style="color:#003366;">Do điều kiện địa lý nước ta nằm sát ngay bên dưới nước láng giềng phương Bắc, nên suốt chiều dài lịch sử, nước Việt đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh lớn nhỏ, cùng nhiều lần tranh chấp đất đai. Cha ông ta anh hùng không những thể hiện qua những lần chống giặc ngoại xâm mà chúng ta còn thấy được qua những lần đối đáp, tranh luận với sứ giả phương Bắc, để giữ từng tấc đất của Tổ Tiên để lại.</span><br />
<span id="more-1625"></span><br />
<span style="color:#003366;"> Năm 1076, theo lệnh vua Tống Thần Tông, Quách Quỳ cùng Triệu Tiết đem quân sang đánh nước ta. Sau khi bị Lý Thường Kiệt đánh bại trên sông Như Nguyệt, quân Tống rút về nước. Mặc dù đã rút quân về nước, nhưng nhà Tống vẫn còn cho quân chiếm giữ phần đất của ta sát biên giới Việt – Tống, là châu Quảng Nguyên (1) cùng một số đất đai, hang động, trong đó có hai động Vật Dương và Vật Ác, do thổ dân Đại Việt vì sợ sệt, nên khi chiến tranh xảy ra, đã dâng nộp cho nhà Tống.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"> Sử sách ghi lại, năm 1078, vua Lý Nhân Tông sai Đào Tống Nguyên đem tặng 5 con voi cho vua Tống, với mục đích đòi nhà Tống trả lại đất đai cho Đại Việt mà họ đang chiếm giữ. Vua Tống đồng ý trả lại châu Quảng Nguyên, nhưng vẫn không chịu trả những vùng đất khác, viện cớ do thổ dân Đại Việt đã tự ý dâng nộp đất chứ không phải nhà Tống chiếm giữ trái phép. Vua Lý Nhân Tông đã viết tờ biểu đòi lại hai hang động này, trong đó có đoạn:</span></p>
<p><span style="color:#003366;"> <em>“Nước tôi có đất Vật Dương, Vật Ác, gồm hai động và tám huyện, vẫn tiếp liền với phần đất tỉnh [Quảng Tây]. [Những đất ấy] trước sau đều bị bọn đầu mục thổ dân làm phản, bỏ đi, đem theo về với Trung Quốc. Đất Vật Dương thì năm Bính thìn (1076) bị sát nhập vầo đất quý tỉnh; đất Vật Ác thì năm Nhâm tuất (1082) cũng bị sát nhập và đặt thành ải Thông Khang.</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"> <em>Mặc dầu đấy chỉ là mảnh đất nhỏ nhưng vẫn khiến lòng tôi đau xót, luôn luôn nghĩ đến cả trong giấc mộng. Quả thực tổ tiên tôi xưa kia đã phải đánh dẹp phường tiếm nghịch, xông pha gian nguy, không tiếc tính mạng mới có được đất ấy. Nay tôi phận con cháu, đã không kế tục được cơ nghiệp được [cha ông] thì dám đâu dự vào hàng mộ nước phên dậu, cầu lấy cái sống tạm bợ trong chốc lát”. (2)</em></span></p>
<p align="center"><span style="color:#003366;">THỈNH HOÀN VẬT DƯƠNG, VẬT ÁC NHỊ ĐỘNG BIỂU</span></p>
<p align="center"> <a href="http://vietsuky.files.wordpress.com/2012/02/ly-nhan-tong-1.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-1626" title="ly-nhan-tong-1" src="http://vietsuky.files.wordpress.com/2012/02/ly-nhan-tong-1.jpg" alt="" width="625" height="238" /></a></p>
<p><span style="color:#003366;">Mặc dù tỏ ra nhún nhường trong cách sử dụng từ ngữ khi tự nhận nước mình là một nước “phên dậu”, tức là nước nhỏ so với Tống, thế nhưng vua Lý Nhân Tông đã dùng lý lẽ cứng rắn khi đòi đất. Ông đã chỉ ra rằng, vùng đất ấy là do “thổ dân làm phản” nên đã lấy đất của Đại Việt đem nộp cho nhà Tống, chứ không phải là những vùng đất do các thổ dân kia làm chủ sở hữu, do vậy, việc dâng nộp đất cho Tống là trái phép. Thêm một điểm khéo léo nữa là vua Lý Nhân Tông đã nói với nhà Tống rằng, đất đai của Tổ Tiên để lại, phận làm vua của một nước mà không giữ được, thì đâu còn xứng đáng làm nước “phên dậu” của Tống.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"> Năm 1084, vua Lý Nhân Tông phái Lê Văn Thịnh sang bàn chuyện với sứ giả nhà Tống để đòi lại vùng đất cương vực mà nhà Tống chiếm giữ. Cũng với lý do thổ dân nước ta tự ý nộp đất cho Tống, nên sứ giả nhà Tống không chịu trả lại những vùng đất này. Lê Văn Thịnh đã trả lời sứ giả như sau:</span></p>
<p><span style="color:#003366;"> <em>“Đất thì có chủ; bọn thuộc lại giữ đất đem dâng nộp và trốn đi, thì đất ấy thành <strong>vật ăn trộm</strong> của chủ. Coi giữ đất cho chủ lại tự ý lấy trộm tất không tha thứ được, mà ăn hối lộ và tàng trữ (của ăn trộm) pháp luật cũng không dung. Huống chi, (bọn chúng) lại có thể làm nhơ bẩn cả sổ sách của quý tỉnh hay sao”? (3)</em></span></p>
<p align="center"><span style="color:#003366;">DỮ TỐNG SỨ TRANH BIỆN</span></p>
<p align="center"> <a href="http://vietsuky.files.wordpress.com/2012/02/le-van-the1bb8bnh-1.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-1627" title="le-van-the1bb8bnh-1" src="http://vietsuky.files.wordpress.com/2012/02/le-van-the1bb8bnh-1.jpg" alt="" width="621" height="206" /></a></p>
<p><span style="color:#003366;">Đại diện cho quốc gia Đại Việt, Lê Văn Thịnh đã đưa ra lý lẽ rành mạch khi trả lời sứ nhà Tống, rằng khi các thổ dân được vua giao canh giữ đất đai vùng biên giới, thì họ không có quyền sở hữu, nên không có quyền đem bán hay dâng nộp cho một nước khác. Nếu một vật được giao giữ hộ mà người giữ vật ấy đem bán, hoặc đem cho người khác, thì người giữ hộ trở thành kẻ ăn cắp và người nhận vật ấy cũng trở thành người giữ đồ gian. Lê Văn Thịnh đã khôn khéo gài sứ thần nhà Tống rằng, với một nước lớn như nước Tống mà giữ những mảnh đất ấy, tức giữ đồ ăn trộm thì sẽ bị mang tiếng nhơ khó rửa!</span></p>
<p><span style="color:#003366;"> Nhờ ý thức giữ gìn từng tấc đất do Tổ Tiên để lại của triều đình nhà Lý, đứng đầu là vua Lý Nhân Tông, cộng với tài ngoại giao khéo léo của của Lê Văn Thịnh, cuối cùng nhà Tống đành phải trả lại châu Quảng Nguyên cùng 6 huyện và 3 động cho nước ta (4). Người Tống có thơ rằng:</span></p>
<p><span style="color:#003366;"> <em>Nhân tham Giao Chỉ tượng<br />
Khướt thất Quảng Nguyên kim</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"> Nghĩa là:</span></p>
<p><span style="color:#003366;"> <em>Vì tham voi Giao Chỉ<br />
Bỏ mất vàng Quảng Nguyên</em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"> Qua việc đòi đất dưới thời vua Lý Nhân Tông, chúng ta thấy rằng, triều đình nhà Lý nhận thức rất rõ trách nhiệm giữ gìn từng tấc đất của Tổ Tiên để lại. Cha ông ta ngày xưa mặc dù mềm dẻo trong vấn đề ngoại giao nhưng đã không tỏ ra nhu nhược và nhất là không để nước láng giềng phương Bắc lấn chiếm đất đai. Một khi đã xác định chủ quyền những vùng đất bị nhà Tống chiếm giữ là của mình, thì vua tôi nhà Lý quyết đòi lại cho bằng được, bởi hơn ai hết, triều đình nhà Lý hiểu rằng, họ đang sống trên mảnh đất có chủ quyền, họ là người làm chủ mảnh đất đó và họ có trách nhiệm phải giữ gìn những mảnh đất thiêng liêng này.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"> Suốt mấy ngàn năm lịch sử, nước Việt của chúng ta bao giờ cũng nhỏ hơn nước Trung Hoa, dân số nước ta bao giờ cũng ít hơn dân Trung Hoa cả chục lần, thế nhưng nước ta chưa bao giờ phải nhượng một tấc đất khi bị người phương Bắc lấn ép cương vực. Dân tộc ta chưa bao giờ chịu cúi đầu trước kẻ thù xâm lược, cho dù kẻ thù đó đông hơn ta, có vũ khí mạnh hơn ta gấp bội lần.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"> Đọc chuyện xưa rồi nghĩ tới chuyện nay, những năm gần đây nước Việt chúng ta đã để mất đi những vùng lãnh hải, lãnh thổ vào tay người phương Bắc, kể cả những địa danh lịch sử đã đi vào lòng người, như Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc&#8230; Phải chăng những người có trách nhiệm giữ gìn những mảnh đất kia đã không học được gì từ những bài học lịch sử mà cha ông ta để lại, hay đã học nhưng vì những lý do nào đó, họ đã chấp nhận để người phương Bắc lấn ép, chiếm giữ trái phép đất đai của chúng ta?</span></p>
<p><span style="color:#003366;"> Và rồi mai đây, vài chục hoặc vài trăm năm sau, con cháu của chúng ta sẽ nghĩ sao khi biết rằng, trong giai đoạn lịch sử này, những người đang nắm giữ vận mệnh đất nước đã từng để mất những mảnh đất mà cha ông của chúng ta, hàng ngàn năm qua đã đổ biết bao máu xương để gìn giữ cho đến ngày nay?</span></p>
<p><strong>© Ba Sàm 2010</strong></p>
<p>* Bài đã được đưa lên trang Ba Sàm từ ngày 17-1-2010, nhưng do bị tin tặc phá, xóa mất, nay đưa lên lại<br />
—–</p>
<p><strong>Ghi chú: </strong></p>
<p>(1) Châu Quảng Nguyên: vùng đất thuộc tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn ngày nay.</p>
<p>(2) Bản dịch của Thanh Băng – Hoàng Lê.</p>
<p>(3) Bản dịch của GS Hoàng Xuân Hãn.</p>
<p>(4)   Xem <a title="Giáp Tý, /Anh Vũ Chiêu Thắng/ năm thứ 9&lt;br /&gt;<br />
 [1084] , (Tống Nguyên Phong năm thứ 7). Mùa hạ, tháng 6, sai thi lang&lt;br /&gt;<br />
bộ Binh Lê Văn Thịnh đến trại Vĩnh Bình cùng với người Tống bàn việc&lt;br /&gt;<br />
cương giới. Nhà Tống trả lại cho ta 6 huyện 3 động. Người Tống có thơ&lt;br /&gt;<br />
rằng:&quot;&#8221; href=&#8221;http://www.informatik.uni-leipzig.de/%7Educ/sach/dvsktt/dvsktt08.html&#8221; target=&#8221;_blank&#8221;>Đại Việt Sử Ký Toàn Thư</a>, phần Nhân Tông Hoàng Đế.</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/vietsuky.wordpress.com/1625/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/vietsuky.wordpress.com/1625/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/vietsuky.wordpress.com/1625/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/vietsuky.wordpress.com/1625/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/vietsuky.wordpress.com/1625/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/vietsuky.wordpress.com/1625/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/vietsuky.wordpress.com/1625/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/vietsuky.wordpress.com/1625/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/vietsuky.wordpress.com/1625/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/vietsuky.wordpress.com/1625/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/vietsuky.wordpress.com/1625/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/vietsuky.wordpress.com/1625/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/vietsuky.wordpress.com/1625/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/vietsuky.wordpress.com/1625/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vietsuky.wordpress.com&amp;blog=29420608&amp;post=1625&amp;subd=vietsuky&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/07/66-ngoai-giao-de-giu-dat-duoi-thoi-vua-ly-nhan-tong/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>6</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/c3f46a060a458b1967070ec26d4dd571?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">vietsuky</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://vietsuky.files.wordpress.com/2012/02/ly-nhan-tong-1.jpg" medium="image">
			<media:title type="html">ly-nhan-tong-1</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://vietsuky.files.wordpress.com/2012/02/le-van-the1bb8bnh-1.jpg" medium="image">
			<media:title type="html">le-van-the1bb8bnh-1</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>65. THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM THẾ KỶ XI – XIII DƯỚI THỜI LÝ</title>
		<link>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/05/61-the-che-chinh-tri-o-viet-nam-the-ky-xi-xiii-duoi-thoi-ly/</link>
		<comments>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/05/61-the-che-chinh-tri-o-viet-nam-the-ky-xi-xiii-duoi-thoi-ly/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 05 Feb 2012 14:00:58 +0000</pubDate>
		<dc:creator>vietsuky</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sử liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Trao đổi]]></category>
		<category><![CDATA[Lê Đại Hành]]></category>
		<category><![CDATA[Lý Thái Tổ]]></category>
		<category><![CDATA[Lý Thánh Tông]]></category>
		<category><![CDATA[Lý Thường Kiệt]]></category>
		<category><![CDATA[Lý Đạo Thành]]></category>
		<category><![CDATA[Tô Hiến Thành]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vietsuky.wordpress.com/?p=1446</guid>
		<description><![CDATA[THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM THẾ KỶ XI – XIII DƯỚI THỜI LÝ PGS.TS. Trần Thị Vinh * Viện Sử học Vương triều Lý được thiết lập vào năm 1009, ngay sau thế kỷ bản lề (thế kỷ X) – giành và giữ chính quyền từ tay phong kiến ngoại bang của dân [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vietsuky.wordpress.com&amp;blog=29420608&amp;post=1446&amp;subd=vietsuky&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h1><span style="color:#003366;"><strong>THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM </strong></span></h1>
<h1><span style="color:#003366;"><strong>THẾ KỶ XI – XIII D</strong><strong>Ư</strong><strong>ỚI THỜI LÝ </strong></span></h1>
<p><strong>PGS.TS. Trần Thị Vinh *<br />
</strong></p>
<p>Viện Sử học</p>
<p><span style="color:#003366;">Vương triều Lý được thiết lập vào năm 1009, ngay sau thế kỷ bản lề (thế kỷ X) – giành và giữ chính quyền từ tay phong kiến ngoại bang của dân tộc Việt Nam. Từ khi thoát khỏi ách thống trị của phong kiến ngoại bang, nhà nước quân chủ dân tộc Việt Nam bắt đầu được xác lập. Trải qua các triều Ngô – Đinh – Tiền Lê, Nhà nước quân chủ dân tộc đã dần dần được kiện toàn, nhưng vừa ra đời sau đêm trường phụ thuộc, nhà nước thời kỳ này hãy còn non trẻ, chưa hoàn thiện về mặt thiết chế, phải đợi đến những thế kỷ sau, bắt đầu từ thời Lý trở đi mới có điều kiện phát triển và hoàn thiện hơn với những thể chế của nó.</span></p>
<p><span id="more-1446"></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Lúc lên ngôi vua tại kinh thành Hoa Lư, tiếp quản cơ đồ của nhà Tiền Lê, trong buổi ban đầu vua Lý Thái Tổ vẫn giữ nguyên thể chế chính chính trị cũ. Sau khi chuyển triều đình từ Hoa Lư ra Thăng Long, các vua nhà Lý mới bắt đầu củng cố và xây dựng một chế độ chính trị riêng của nhà Lý cho phù hợp với chính thể đương thời. Thể chế chính trị của nhà Lý được hoàn thiện trong các thế kỷ XI – XIII (từ 1010 – 1225) là một chế độ chính trị ổn định và thống nhất, trên có vua, dưới vua là hệ thống chính quyền nhà nước thống nhất từ trung ương tới địa phương. Điều hành hệ thống chính quyền nhà nước thống nhất của nhà Lý là đội ngũ quan chức đông đảo được tuyển chọn bằng nhiều hình thức khác nhau. Để bảo vệ vững chắc nhà nước quân chủ thống nhất và quốc gia Đại Việt non trẻ, nhà Lý đã xây dựng một lực lượng quốc phòng vững mạnh và một nền pháp chế phù hợp. Thể chế chính trị của nhà Lý được cụ thể hóa bằng những mặt sau đây : <strong> </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>1. </strong><strong>Cách tổ chức các cơ quan thuộc nền hành chính quốc gia </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Nền hành chính quốc gia thời Lý, do Lý Thái Tổ là người đầu tiên xây dựng, đặt nền tảng cho sự phát triển về sau là một nền hành chính theo chế độ quân chủ tập trung quan liêu với hệ thống chính trị thống nhất từ trung ương tới địa phương được tập trung quyền hành vào trong tay triều đình, đứng đầu là vua.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong><em>Các cơ quan thuộc nền hành chính Trung ương </em></strong>:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Bắt đầu từ thời Lý, các cơ quan thuộc nền hành chính trung ương (hay còn gọi là Tổ chức chính quyền Trung ương) đã được kiện toàn và hoàn thiện hơn so với thời Đinh và Tiền Lê trước đó, gồm ba bộ phận chủ yếu là: <em>Những văn thư phòng giúp việc bên cạnh vua, Các cơ quan đầu não tại triều đình </em>và <em>Các cơ quan chuyên môn.</em><em> </em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">- <em>Những văn thư phòng giúp việc bên cạnh vua</em>, vào thời Lý đặt chưa đầy đủ như ở thời Trần và thời Lê sơ sau đó. Từ thời Trần và đặc biệt là thời Lê Sơ về sau, những văn thư phòng giúp việc cho vua bao gồm đủ cả ba bộ phận, đó là: các <em>Sảnh </em>( hay còn gọi là các <em>Tỉnh </em>như Thượng thư tỉnh, Trung thư tỉnh, Môn hạ tỉnh, Hoàng môn tỉnh và Nội thị tỉnh); <em>Hàn lâm viện </em>và <em>Bí thư giám. </em>Nhưng dưới thời Lý, Bí thư giám chưa được đặt nên chỉ mới có hai văn phòng bên cạnh vua và giúp việc cho vua là <em>Sảnh </em>và <em>Hàn lâm viện</em>.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Sảnh </em>(gồm có Thượng thư sảnh và Trung thư sảnh), không rõ được đặt ra như thế nào và vào lúc nào dưới thời Lý. Theo sách <em>Lịch triều hiến chương loại chí </em>thì “đến đời vua Lý Thần Tông (1128 – 1138) có đặt chức Viên ngoại lang ở Thượng thư sảnh, dự bàn chính sự, danh vị cũng trọng. Quan trong, quan ngoài thường gia thêm chức ấy, như Nội thị là Lý Công Tín, Hàn Quốc Bảo đều gia chức Viên ngoại lang”1. Sách <em>Đại việt sử ký toàn thư </em>cũng ghi, vào tháng giêng, năm Mậu Thân (1128), sau khi Lý Thần Tông lên ngôi đã phong Đào Thuấn làm <em>Trung thư sảnh </em>viên ngoại lang hành tây thượng cáp môn sứ, Lý Bảo Thần làm <em>Thượng thư sảnh </em>viên ngoại lang hành đông thượng cáp môn sứ và một loạt người như Phạm Thưởng, Đỗ Lục, Khổng Nguyên, Phạm Bảo, Kim Cát, Lý Khái, Đào Lão, Nguyễn Hoàn làm Viên ngoại lang <em>Thượng thư sảnh</em><em>2</em>. Như vậy, vào thời Lý đã có cơ quan là Sảnh, nên mới có việc đặt các chức quan của Thượng thư sảnh và Trung thư sảnh như sử sách vừa ghi.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Hàn lâm viện </em>được lập ra đầu tiên ở nước ta bắt đầu từ thời Lý, dưới triều vua Lý Nhân Tông (1072 – 1127) và đứng đầu Hàn lâm viện là chức quan <em>Hàn lâm học sĩ</em>. Sách <em>Đại việt sử ký toàn thư </em>ghi, vào mùa thu, tháng 8, năm Bính Dần (1086), triều đình đã tổ chức thi những người có văn học trong nước, sung vào làm quan ở Hàn lâm viện. Mạc Hiển Tích trúng tuyển, được bổ vào làm Hàn lâm học sĩ3. Sách <em>Lịch triều hiến chương loại chí </em>cũng ghi, “đời Lý đã đặt Hàn lâm viện và đặt chức Học sĩ (trong đời NhânTông Mạc Hiển Tích làm Hàn Lâm học sĩ)”4. Hàn lâm viện có nhiệm vụ trông coi việc soạn thảo những chế, cáo và chiếu biểu của vua. Chức Hàn lâm học sĩ, đến các thời Trần và Lê Sơ còn gọi là Hàn lâm phụng chỉ và Hàn lâm học sĩ phụng chỉ, là chức vụ rất trọng, thường dùng Thái sư, Mật viện kiêm nhiệm. Công việc của quan Hàn lâm phụng chỉ là soạn đặt tờ chiếu thay vua5.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>- Các cơ quan đầu não tại triều đình </em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Cùng với việc đặt các cơ quan đầu não tại triều đình, nhà Lý đã đặt ra những chức quan đứng đầu triều. Những chức quan đứng đầu triều đều là những quan lại được vua uỷ nhiệm trực tiếp điều khiển toàn bộ nền cai trị trong nước. Đó là <em>Tể tướng </em>và <em>Á tướng</em>.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Chức vụ <em>Tể tướng </em>từ thời Đinh trở về trước gọi là gì không rõ, đến thời Tiền Lê, Lê Đại Hành mới đặt ra chức Tổng quản coi việc quân dân, tóm giữ việc nước, tức là công việc của Tể tướng6. Bắt đầu từ thời Lý, khi mới dựng nước, vua Lý Thái Tổ đã cho Trần Cảo làm tướng công7 tức giữ chức Tể tướng. Đến đời vua Lý Thái Tông “dùng chức Phụ quốc Thái uý giữ chính sự, chức nhiệm cầm cân, tức là Tể tướng”8. Tiếp đến đời Lý Nhân Tông lại thêm vào mấy chữ “Kiểm hiệu bình chương quân quốc trọng sự”, xem ra chức vụ càng trọng. Có người làm chức vụ này lại mang danh chức trong hàng Tam thái (Thái sư, Thái phó, Thái bảo) và Tam thiếu (Thiếu sư, Thiếu phó, Thiếu bảo). Vào thời Lý đã có những ng-ười từng giữ chức vụ Tể tướng với nhiều danh vọng như: Lý Thường Kiệt làm Thái phó phụ quốc thượng tướng quân9 dưới triều vua Lý Thánh Tông; Lý Đạo Thành làm Thái phó Bình chương quân quốc trọng sự10 dưới triều vua Lý Nhân Tông; Tô Hiến Thành giữ chức Nhập nội kiểm hiệu Thái phó Bình chương quân quốc trọng sự11 dưới triều vua Lý Anh Tông và sau đó có Thái sư Đỗ An Di cũng kiêm chức Đồng bình chương sự12 ở triều Lý Anh Tông…</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Á tướng </em>là chức vụ của viên quan đứng sau Tể tướng và đứng ở vị trí thứ hai tại triều đình. Vào thời Lý, chức Á tướng là <em>Tả, Hữu tham tri chính sự</em>. Á tướng có nhiệm vụ giúp Tể tướng điều khiển mọi việc trong nước, còn gọi là Phó tướng. Vào thời kỳ này, nhà Lý còn cho đặt thêm chức <em>Hành khiển </em>cũng là chức đứng sau Tể tướng và chuyên lấy trung quan (hoạn quan) để đảm đương chức vụ ấy, rồi gia thêm danh hiệu là “<em>Nhập nội hành khiển Đồng trung thư môn hạ bình chương sự</em>”13. Theo ghi chép trong sách <em>Lịch triều hiến chương loại chí </em>thì chức hàm này “<em>rất trọng vì đó là chức quan giữ then chốt về chính sự”</em>14.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Dưới Tể tướng và Á tướng – hai chức quan đứng đầu và đứng thứ hai trong triều, là các cơ quan chính yếu như: <em>Khu mật viện </em>và các <em>Bộ. </em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Khu mật viện </em>được lập ra từ thời Lý. Đứng đầu Khu mật viện là hai chức quan <em>Tả sứ </em>và <em>Hữu sứ</em>15 trông coi việc binh. Làm việc trong Khu mật viện đều là những quan thân cận nhà vua và chỉ bàn tới các việc cơ mật trong triều. Dưới triều vua Lý Thái Tổ có Ngô Đinh được làm Khu mật sứ16. Sang thời Lý Thái Tông thì có Lý Đạo Kỷ làm Tả khu mật và Xung Tân làm Hữu khu mật17. Những người này đều là công thần thân cận được vua Lý Thái Tổ và Lý Thái Tông ban chức tước ngay từ sau khi nhà vua lên ngôi.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Các Bộ, </em>vào thời Lý nói chung chưa thấy có sự phân định rõ ràng. Tuy vậy, ở thời kỳ này, chức <em>Thượng thư </em>đứng đầu bộ đã bắt đầu được đặt, ví dụ dưới triều vua Lý Nhân Tông, Mạc Hiển Tích, Đoàn Văn Khâm, Nguyễn Công Bật vv…đều được giữ chức Thượng thư. Phan Huy chú viết trong <em>Lịch triều hiến chương loại chí </em>rằng: “Chức Thượng thư đặt ra bắt đầu từ thời Lý, nhưng tên các bộ chia đặt thế nào chưa rõ”18. Chức Thị lang cũng đã được đặt ở thời kỳ này. Sách <em>Lịch triều hiến chương loại chí </em>ghi, năm 1118 “đặt chức bộ Thị lang”19. Biên niên sử thì chưa ghi đầy đủ tên các Bộ của thời Lý mà chỉ thấy nhắc đến tên của hai Bộ, là Bộ Lễ và Bộ Hộ qua hai sự kiện ghi vào năm Mậu Tuất (1118), Tả thị lang Bộ Hộ là Lý Tú Uyên chết20 và năm Giáp Thìn (1124), Nội thường thị là Lê Bá Ngọc làm Thị lang Bộ Lễ21. Điều này cũng được Phan Huy Chú nhấn mạnh là “Đời Lý buổi đầu đặt quan, đã có những chức Trung thư thị lang, Bộ thị lang, nhưng các bộ không đặt đủ”22. Có lẽ do sự ghi chép không đầy đủ trong chính sử nên sự hiểu biết về các Bộ của thời Lý từ trước tới nay cũng chưa được đầy đủ. Nhưng theo nguồn tài liệu văn bia của thời Lý đã đư-ợc dịch và công bố trong tập <em>Thơ văn Lý – Trần</em>, xuất bản năm 1977, thì vào thời Lý đã có đầy đủ các bộ, nhất là từ triều vua thứ tư của nhà Lý là Lý Nhân Tông (1072 – 1127) trở đi. Theo lời chú cuối cùng của <em>Bia tháp Sùng Thiện Diên Linh </em>ở chùa núi Long Đội (thuộc xã Đội Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam) dựng vào ngày 6 tháng 7, niên hiệu Thiên Phù Duệ vũ thứ hai (1121) cho biết, người được vâng sắc chỉ của vua Lý Nhân Tông để soạn bài văn của bia này là <em>Nguyễn Công Bật</em>, đang giữ chức Triều liệt, <em>Hình bộ </em>Thượng thư, <em>Binh Bộ </em>Viên ngoại lang đồng tri phiên công viện chư sự và người viết chữ bài văn bia là <em>Lý Bảo Cung</em>, đang giữ chức Hữu thị lang, Thượng thư, <em>Công Bộ </em>Viên ngoại lang đồng tri thẩm hình viện sự, thượng kinh xa đô uý, tử kim ngư23. Dưới triều vua Lý Nhân Tông còn có Trần Văn Khâm cũng từng giữ chức Thượng thư <em>Bộ Công</em>24, Phùng Giáng Tường giữ chức Thượng thư <em>Bộ Binh</em>25. Hoặc Từ Anh Nhĩ từng giữ chức Thượng thư <em>Bộ Lại </em>dưới triều vua Lý Cao Tông (1176 – 1210)26. Trong <em>Văn bia về Thái uý Lý công</em><em>27</em><em>nước Đại Việt </em>(Cự Việt quốc Thái uý Lý công thạch bi minh tự ) khi nói về công trạng của Thái uý có đoạn ghi: “Năm Đinh Mùi đời vua Thần Tông (1127), Thái uý được truyền vào chầu ở nơi nội cấm, chức vị bao trùm cả <em>sáu bộ thượng thư</em><em>28</em><em>. </em>Như vậy, theo ghi chép trong chính sử cộng với những ghi chép trong văn bia Lý – Trần thì vào thời Lý đã có đủ sáu Bộ, đó là các bộ: <em>Lại, Lễ, Hộ, Binh, Hình </em>và <em>Công. </em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">- <em>Các cơ quan chuyên môn </em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Để giúp việc cho các cơ quan đầu não tại triều đình, các vua nhà Lý cũng như các vua nhà Trần và nhà Lê sau đó đều đặt ra các cơ quan chuyên môn, gồm: <em>Quốc sử viện, Thái chúc viện, Quốc tử giám, Các cơ quan coi về hình án </em>(Đình uý ty, Ngũ hình viện), <em>Ngự tiền tam cuộc </em>(Cận thị, Chi hậu và Học sĩ – trông coi về việc binh của nhà vua)… Nhưng, vào thời Lý chưa đặt đầy đủ các cơ quan chuyên môn này. Cơ quan chuyên môn đầu tiên được đặt vào thời Lý là <em>Quốc Tử giám. </em>Quốc Tử giám là cơ quan có nhiệm vụ trông coi về việc giáo dục trong nước.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Quốc Tử giám </em>được lập bắt đầu từ thời Lý, vào năm 1076, dưới triều vua Lý Thánh Tông, nhưng tên các chức quan của cơ quan này chưa rõ như thế nào. Sang thời Trần mới thấy sử ghi về việc đặt chức <em>Tư nghiệp Quốc tử giám </em>(Chu Văn An làm chức này), thời Lê Sơ đặt rất nhiều tên như các chức <em>Tế tửu, Trực giảng, Bác sĩ, Giáo thụ, Ngũ kinh bác sĩ</em>… Sách <em>Đại việt sử ký toàn thư </em>ghi về việc lập Quốc tử giám vào thời Lý như sau: vào “mùa thu, tháng 8, làm Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối29, vẽ Thất thập nhị hiền30 bốn mùa cúng tế. Hoàng Thái tử đến học ở đây”31.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>CÁC CƠ QUAN THUỘC NỀN HÀNH CHÍNH TRUNG </strong><strong>Ư</strong><strong>ƠNG </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>VUA </strong><strong> </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>VĂN</strong><strong> P</strong><strong>HÒNG BÊN CẠNH VUA </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>CƠ QUAN ĐẦU </strong><strong>N</strong><strong>ÃO TẠI TRIỀU ĐÌNH </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>Sảnh </strong>(Thượng thư sảnh,Trung thư sảnh<strong>) </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">- Viên ngoại lang</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>Hàn lâm viện </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">- Hàn lâm học sĩ</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>Quan đầu triều </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">- Tể tướng (Phụ quốc Thái uý)</span></p>
<p><span style="color:#003366;">- Á tướng (Tả, Hữu Tham tri chính sự) )</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>Khu mật viện </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">- Tả sứ</span></p>
<p><span style="color:#003366;">- Hữu sứ</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>Lục Bộ </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">- Thượng thư</span></p>
<p><span style="color:#003366;">- Thị lang</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>CƠ QUAN CHUYÊN MÔN </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>Quốc Tử giám </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong><br />
</strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Nhìn vào sơ đồ tổ chức các cơ quan thuộc nền hành chính Trung ương của thời Lý dễ nhận thấy, vào thời kỳ này so với những thời kỳ sau đó, bộ máy chính quyền Trung ương của thời Lý tuy chưa được hoàn thiện và chưa đặt đầy đủ các cơ quan, song đã có sự kiện toàn đáng kể so với những thời kỳ trước. Đó là những cố gắng rất lớn của nhà Lý trong buổi đầu dựng nghiệp.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong><em>Các cấp hành chính ở địa phương </em></strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Ngay trong năm 1010, khi đã ổn định một số công việc lớn mang tầm quốc gia như dời chuyển kinh đô, kiến lập kinh thành, kiện toàn bộ máy bộ máy chính quyền ở cấp Trung ương, vua Lý Thái Tổ cũng đã tiến hành xây dựng bộ máy hành chính các cấp cơ sở, làm nền tảng vững chắc cho toàn bộ hệ thống chính quyền nhà nước.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Công việc đầu tiên mà nhà vua tiến hành là cho chia lại các khu vực hành chính trong nước. Đơn vị hành chính đứng đầu cấp chính quyền địa phương thời Lý gọi là <em>phủ, Lộ. </em>Ngay từ khi vừa dời đô ra Thăng Long, vua Lý Thái Tổ đã cho đổi <em>châu </em>Cổ pháp, quê hương của nhà Lý làm <em>phủ </em>Thiên Đức, đổi vùng kinh thành Hoa Lư cũ của nhà Đinh – Tiền Lê thành <em>phủ </em>Trường Yên32. Đến cuối năm đó (tháng 12 năm 1010), nhà vua bắt đầu cho đổi 10 <em>Đạo </em>có từ thời Đinh và Tiền Lê làm 24 <em>Lộ</em>. Vùng núi thì gọi là <em>châu </em>hay <em>trại</em>. Một số nơi ở xa kinh đô cũng gọi là trại, như việc cho đổi châu Hoan, châu Ái làm <em>trại</em>33. Năm 1014, lại cho đổi <em>phủ </em>Ứng Thiên (Ứng Hoà, Hà Nội ngày nay) thành <em>Nam Kinh</em>34. Năm 1023, đổi <em>trấn </em>Triều Dương( thuộc Quảng Ninh ngày nay) thành <em>châu </em>Vĩnh An35. Năm 1036, đổi <em>châu </em>Hoan thành Nghệ An châu <em>trại</em>36. Sau lại đổi <em>châu </em>Ái thành <em>phủ </em>Thanh Hoá.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Như vậy, ta có thể hình dung được toàn bộ cấp hành chính địa phương của thời Lý theo một hệ thống từ trên xuống dưới như sau :</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Trên là cấp <em>phủ, lộ </em>(ở đồng bằng) và <em>châu </em>hay <em>trại </em>(ở vùng xa kinh đô hoặc miền núi). Dưới phủ, lộ, châu là cấp <em>huyện </em>hoặc (<em>hương), giáp </em>và cuối cùng là <em>thôn</em>. ở Kinh đô thì nhà Lý đặt ra thành các <em>phường</em>, gồm 61 phường (như phường Thái Hoà, phường Cơ Xá, phường Yên Thái…).</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Các đơn vị hành chính vào thời kỳ này, cụ thể ra sao không thấy tài liệu ghi chép đầy đủ. Căn cứ vào một số sách Địa chí viết vào những thế kỷ sau như <em>Dư địa chí </em>của Nguyễn Trãi (thế kỷ XV) và <em>Đại Nam nhất thống chí </em>của Quốc sử quán triều Nguyễn (thế kỷ XIX) chúng ta có thể hình dung được một cách tương đối về vị trí của một số phủ, lộ, châu ở thời kỳ này. Ví dụ: Lộ Hải Thanh, lộ Trường Yên, phủ Lỵ Nhân lúc bấy giờ, nay thuộc vào đất của các tỉnh Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình. Lộ ứng Thiên là vùng Kinh đô Thăng Long và một phần đất phía nam Hà Nội và một phần đất của tỉnh Hà Tây ngày nay. Lộ Bắc Giang là thuộc đất tỉnh Bắc Giang bây giờ. Phủ Thanh Hoá thuộc đất tỉnh Thanh Hoá ngày nay. Châu (hay trại) Nghệ An thì tương ứng với vùng đất tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh bây giờ.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Nhưng, nhìn chung cách gọi phủ, lộ, châu hay trại ở thời kỳ này vẫn chưa được nhất quán. Có thể do phương thức quản lý khác nhau của từng vùng đất mà nhà Lý đặt ra tên gọi khác nhau. Như những vùng đồng bằng phía bắc thì gọi thống nhất là phủ và lộ. Còn những miền xa kinh đô như Thanh Hoá, Nghệ An thì gọi là châu, có lúc đổi là trại, rồi lại đổi thành châu, thành phủ vv…Lại có những nơi ở vùng núi xa thì không gọi là châu mà gọi là <em>đạo. </em>Ví dụ vùng Tây Bắc (dọc theo sông Đà) lúc bấy giờ lại không gọi là châu mà gọi là <em>đạo </em>Lâm Tây vv.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Mỗi phủ (lộ, châu) được chia ra làm nhiều <em>huyện. </em>Đứng đầu đơn vị hành chính cấp huyện là viên <em>Huyện lệnh</em>. Tên đơn vị hành chính cấp huyện ở thời Lý không được ghi trong chính sử mà chỉ thấy ghi trong tài liệu văn bia. Theo văn bia chùa <em>Sùng Nghiêm Diên Thánh </em>dựng tại chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh (Thanh Hóa) vào ngày 19 tháng 10 năm Mậu Tuất (1118) cho biết, Chu Công là người được triều đình nhà Lý cử coi giữ trấn Thanh Hóa sau khi Lý Thường Kiệt về triều đình giữ chức Tể tướng lần hai, vào ngày Ất Mùi, niên hiệu Hội Tường Đại Khánh thứ 6 (1115), Chu Công đã “kính vâng chiếu chỉ, tới giữ quận phù, quyền thống lĩnh các việc quân châu của năm <em>huyện </em>và ba nguồn thuộc trấn Thanh Hóa”37. Khi Chu Công cho dựng chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh, ông đã sai một viên huyện lệnh trông coi việc này. Văn bia vẫn còn ghi rằng: “Đương khi dân chúng nghỉ ngơi, cấy cày rảnh việc. Ông bèn sai <em>huyện lệnh </em>Lê Chiếu trông coi việc dựng chùa”38. Như vậy, theo nguồn tài liệu này thì vào thời Lý đã có đơn vị hành chính cấp huyện và người đứng đầu cấp huyện là Huyện lệnh. Còn đơn vị hành chính cấp huyện rộng hẹp ra sao thì tài liệu không cho biết chính xác. Ngoài tài liệu văn bia, trong sách <em>Việt điện u linh</em>, Lý Tế Xuyên cũng nhắc tới tên huyện vào thời Lý, qua sự kiện Uy Minh vương Lý Nhật Quang khi giữ chức Tri châu châu Nghệ An, ông đã cho nhân dân khai phá đất đai mở mang được 6 huyện…39 ở kinh đô tương đương với cấp này thì gọi là <em>phường, </em>ở miền núi lại gọi là <em>sách </em>hay <em>động. </em></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Cấp <em>hương </em>dưới thời Lý cụ thể thế nào không thấy sử sách nói rõ, nhưng sử cũ lại nhắc tới tên hương, qua nhiều sự kiện khác nhau. Như những sự kiện sau đây:</span></p>
<p><span style="color:#003366;">- Năm 1010, vua Lý Thái Tổ đã hạ lệnh cho các <em>hương ấp</em>, nơi nào có chùa quán đổ nát đều phải sửa chữa lại40.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">- Năm 1027, trong vụ dẹp loạn ba vương giữ ngôi báu cho vua Lý Thái Tông, Lê Phụng Hiểu, một trong những công thần được sử nhắc đến là người <em>hương </em>Băng Sơn ở Ái châu (nay thuộc huyện Hoằng Hóa, Thanh Hoá). Sau ông còn được nhà vua ban cho lộc điền gọi là ruộng ném đao ở <em>hương </em>Đa Mi41.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">- Năm 1068, vua Lý cho đổi <em>hương </em>Thổ Lỗi thành <em>hương </em>Siêu loại vì là nơi sinh của Nguyên phi42.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">- Năm 1128, người Chân Lạp vào cướp <em>hương </em>Đỗ Gia ở châu Nghệ An43.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">- Năm 1131, người ở <em>hương </em>Thái Bình là Nguyễn Mãi dâng hươu trắng44.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">- Đến năm 1198, vào cuối thời Lý biên niên sử vẫn còn ghi tên <em>hương</em>, như “người <em>hương </em>Cao Xá ở châu Diễn là Ngô Công Lý chiêu tập những kẻ vô lại…làm loạn”45. Hoặc sách <em>Việt sử lược </em>khi viết về thời Lý cũng nhắc nhiều đến tên hương, như “trong <em>hương </em>vua ở, có cây gạo bị sét đánh…”46, “con chó ở chùa ứng Thiên <em>hương </em>Cổ Pháp đẻ một con chó trắng…”47.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Đơn vị hành chính cấp <em>hương </em>được đặt ở nước ta từ thời thuộc Đường (năm 662) dưới thời Thứ sử Khâu Hoà. Lúc này hương được chia làm đại hương và tiểu hương. Trong khoảng đời Trinh Nguyên (785 – 805), viên đô hộ Triệu Xương bỏ tên đại, tiểu hương chỉ gọi chung là hương. Đến thời Hàm Thông (860 – 874), Cao Biền chia đặt lại hương thuộc, có tất cả 159 hương48. Khi chính quyền về tay họ Khúc, Khúc Hạo lại cho đổi hương thành giáp. Sách <em>An Nam chí nguyên </em>ghi: “Giữa niên hiệu Khai Bình (907 – 910) nhà Lương, Tiết độ sứ Khúc Hạo lại đổi hương làm giáp, đặt thêm 150 giáp, cộng với số giáp đã có từ trước tất cả là 314 giáp”49.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Qua các triều Ngô, Đinh và Tiền Lê không thấy biên niên sử nhắc đến tên hương, nhưng có lẽ đơn vị hương đã phải có từ trước khi triều Lý thành lập, vì ngay từ đầu triều Lý đã thấy sử ghi tên hương và trong suốt thời Lý cho đến cuối triều Lý vẫn thấy biên niên sử ghi rất nhiều về đơn vị hành chính cấp hương. Vậy, hương phải là một đơn vị hành chính cấp cơ sở vì nó được tồn tại khá phổ biến dưới thời Lý. Hương lúc này qui mô chắc cũng lớn, có lẽ phải lớn hơn tổng và tương đương với huyện sau này. Vì năm 1068, vua Lý cho đổi hương Thổ Lỗi – nơi sinh của Nguyên phi ỷ Lan thành hương Siêu loại, thì sau này hương Siêu Loại lại được đổi làm huyện Siêu Loại. Huyện Siêu loại còn tồn tại cho đến thế kỷ XIX, huyện này có tới 6 tổng và 68 xã thôn50.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Như vậy, hương thời Lý có thể tương đương với cấp huyện hoặc có nơi gọi hương là huyện và có nơi lại gọi huyện là hương do chưa có sự nhất quán về tên gọi các đơn vị hành chính của thời kỳ này như vừa nhắc ở trên.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Về tên gọi hương hay đơn vị hành chính cấp hương ở thời Lý có phải đồng nghĩa với đơn vị giáp hay không, hiện cũng chưa xác định được do chưa có tư liệu để chứng minh. Mặc dù từ đầu thế kỷ X, Khúc Hạo đã cho đổi hương thành giáp, nhưng đến thời Lý hai đơn vị hành chính này vẫn hiện tồn, vừa có hương lại vừa có giáp. Như vậy tên gọi hương lúc này không đồng nghĩa với tên gọi giáp. Do đó hương và giáp phải là hai đơn vị riêng biệt, chứ không phải là một như ở thời kỳ trước. Tuy nhiên, hai cấp hành chính này cụ thể ra sao thì chưa khảo được vì chưa đủ tư liệu.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Giáp </em>ở thời Lý cụ thể như thế nào cũng không thấy sử sách ghi chép đầy đủ nhưng chắc chắn vào thời kỳ này, đơn vị giáp hãy còn tồn tại vì vào thời Khúc – Ngô – Đinh – Tiền Lê, giáp là đơn vị hành chính khá phổ biến. Các chức <em>Quản giáp </em>và <em>Phó quản giáp </em>đã được đặt ra để trông nom công việc của giáp. Đến thời Lý, vẫn còn thấy sử nhắc tới tên giáp, như năm 1029 “<em>Giáp </em>Đãn Nãi ở Ái châu làm phản…vua thân đi đánh <em>giáp </em>Đãn Nãi”51. Vào thời vua Lý Thái Tông, khi Uy Minh Vương Lý Nhật Quang được cử làm Tri châu châu Nghệ An, ông đã cho nhân dân khai phá mở mang xây dựng và phát triển vùng đất này rồi lập hộ tịch, kê khai được 6 huyện, 4 trường, 60 <em>giáp</em><em>52 </em>như vừa nhắc ở trên<em>. </em>Như vậy, đơn vị Giáp cho đến thời Lý vẫn còn hiện tồn khá quen thuộc. Chỉ riêng một châu Nghệ An mới được mở mang thêm mà Lý Nhật Quang đã đặt được 60 giáp như vậy là rất đáng kể.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Đơn vị <em>thôn </em>cũng được nhắc đến vào thời Lý qua sự kiện Lê Phụng Hiểu đi đánh dẹp cuộc tranh giành địa giới của hai <em>thôn </em>Đàm Xá và Cổ Bi53 ở châu Ái.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Tại những đơn vị hành chính các cấp của chính quyền địa phương, nhà Lý cũng đã đặt một hệ thống quan chức để giúp triều đình quản lý công việc ở đây.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Quan lại đứng đầu cấp phủ, lộ thời kỳ này là <em>Tri phủ, Phán phủ </em>54. Đứng đầu cấp châu là <em>Tri châu</em>, có những châu ở xa (biên giới) nhà Lý đều đặt chức <em>Quan mục, </em>thường dùng những hào trưởng (hay tù trưởng – TG) tại địa phương để giữ những chức đó55. Những châu có địa thế quan yếu như châu Nghệ An, vua Lý đã cử tôn thất nhà Lý đến để trấn trị, như dưới thời vua Lý Thái Tông, triều đình đã cử Uy Minh vương Lý Nhật Quang làm Tri châu56 coi giữ châu đó trong suốt 16 năm. Đối với những miền biên viễn xa triều đình, một mặt nhà Lý đã dùng chính sách Ki mi để ràng buộc và một mặt dùng các tù trưởng người địa phương theo chế độ thế tập để cai quản. Vào thời kỳ này, ở châu Qui Hoá và Chân Đăng có họ Lê, ở châu Lạng có họ Thân, ở châu Vị Long có họ Hà, ở châu Phú Lương có họ Dương, châu Quảng Nguyên có họ Nùng… Chính sách của nhà Lý là cho phép họ thực sự được quản lý vùng đất của mình theo chế độ thế tập nhưng phải thần phục triều đình và phải giữ chế độ cống phú đều đặn.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Ở cấp huyện, như đã nói ở trên là có chức Huyện lệnh. Tại hương không thấy có tài liệu ghi chép, song có lẽ chức quan làm việc tại đây cũng tương đương với chức quan ở cấp huyện. Còn chức quan quản lý cấp giáp có lẽ là Quản giáp và Chủ đô. Những viên quan này kiêm thêm cả nhiệm vụ thu thuế. Vì vào thời Lý, khi triều đình giao cho quan lại đi thu thuế Hoành đầu, nhà nước đã cho phép những viên Quản giáp và Chủ đô được cùng với người đi thu thuế, ngoài 10 phần phải nộp vào nhà nước, họ được lấy một phần, nếu không làm đúng thì bị xử tội. Sách <em>Đại việt sử ký toàn thư </em>ghi :”Nếu Quản giáp, Chủ đô và người thu thuế thông đồng nhau thu quá lệ, tuy xảy ra đã lâu nhưng không có người tố cáo thì Quản giáp, Chủ đô và người thu thuế cũng phải tội như nhau57″. Chính sử còn ghi cả những việc các viên Quản giáp ở các nơi dâng sản vật địa phương lên vua, như vào năm 1130 “Quản giáp nội tác là Chu Thủy dâng cá diếc vàng”và tiếp đó “Quản giáp Phù Thu Liễu là Phi Nguyên dâng chim trắng”58… Những viên Quản giáp và Chủ đô này phải chăng là các chức quan cai quản tại đơn vị hành chính cấp giáp giống như chức Quản giáp dưới thời họ Khúc vậy.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>CÁC CẤP HÀNH CHÍNH ĐỊA PHƯƠNG </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>Phủ, Lộ </strong>(đồng bằng) – Tri phủ – Phán phủ</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>Châu Trại, Đạo </strong>(miền núi) – Tri châu – Quan mục (miền núi xa)</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>Hương – Huyện </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">- Huyện lệnh <strong>Phường </strong>(ở Kinh đô)</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>Giáp </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">- Quản giáp</span></p>
<p><span style="color:#003366;">- Chủ đô</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>Thôn</strong><strong> </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Nhìn lại toàn bộ cách thức tổ chức nền hành chính quốc gia thời Lý, chúng ta có thể thấy được bước tiến đáng kể của vương triều Lý trong việc củng cố, xây dựng và kiện toàn hệ thống chính trị trong bối cảnh đất nước ổn định về mọi mặt ở các thế kỷ XI – XII. Đây là đóng góp đáng kể của nhà Lý sau đóng góp to lớn có ý nghĩa lịch sử trọng đại là việc dời chuyển Kinh đô và kiến lập Kinh thành Thăng Long.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong><em>Phương thức tuyển dụng quan lại cho bộ máy hành chính quốc gia</em></strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong><em> </em></strong>Để điều hành bộ máy hành chính quốc gia, nhà Lý đã chú ý ngay tới việc xây dựng một hệ thống quan chức theo phong cách riêng của dòng họ Lý. Để xây dựng được một hệ thống quan chức theo phong cách riêng của dòng họ Lý, các vua nhà Lý một mặt đã tìm cách đẩy nhanh quá trình quí tộc hóa tầng lớp quí tộc dòng họ Lý, một mặt đã sử dụng cất nhắc những công thần khai quốc và cuối cùng là xúc tiến dần dần việc đào tạo đội ngũ quan lại nho sĩ mới, bổ sung vào bộ máy chính quyền Nhà nước. Phương thức tuyển dụng quan lại dưới thời Lý được tiến hành bằng ba con đường chính là <em>Tuyển cử, Nhiệm tử và </em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Khoa cử. </em></span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Tuyển cử</em>: Buổi ban đầu nhà Lý rất coi trọng phương thức tuyển cử để bổ sung thêm đội ngũ quan lại mới, vào giúp việc triều đình. Được dự vào hàng tuyển cử đều thuộc tầng lớp trên, từ những người trong thân tộc và những người có công.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Nhiệm tử</em>: Dùng con cháu các quan được tập ấm cũng là một phương thức lựa chọn để lấy người làm quan. Nhưng đến thời Lý, chế độ nhiệm tử không còn coi trọng như ở thời Đinh – Lê, vì nó không thể đảm bảo chất lượng của đội ngũ quan chức trong tình hình mới. Khi chưa mở được khoa cử để tuyển chọn nhân tài thì nhà Lý vẫn còn có thêm hình thức nộp tiền để trao quan tước.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Nộp tiền</em>: Phương thức này ở thời Lý chưa được thịnh hành. Không thấy sử cũ ghi về mức tiền nộp và mức trao quan tước cụ thể, chỉ biết “Người quyên nộp tiền, bắt đầu bổ làm Lại, nộp lần thứ hai được bổ làm Thừa tín lang, làm việc xứng chức thì bổ làm Tri châu”59. Hình thức chính thống trong phương thức tuyển dụng quan lại cho một chính thể quân chủ phải là khoa cử.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><em>Khoa cử</em>: Tuyển chọn nhân tài qua con đường học vấn bắt đầu có từ thời Lý. Lần đầu tiên trong lịch sử chế độ phong kiến quân chủ Việt Nam, khoa cử được sử cũ nhắc đến vào năm Ất Mão (1075). Nho học bắt đầu được coi trọng và đội ngũ Nho sĩ đỗ đạt bắt đầu được gia nhập vào trong thiết chế Nhà nước. Nhưng vào thời Lý, khoa cử mới bắt đầu, chưa trở thành chế độ thường xuyên, số lượng Nho sĩ đỗ đạt cũng chưa nhiều và khoa cử chưa chiếm vị trí quan trọng trong phương thức tuyển dụng quan lại của thời Lý.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Tuy vậy, chất lượng của đội ngũ quan chức làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước thời Lý khá đảm bảo, vì đội ngũ quan lại thời Lý vừa không được hưởng chế độ lương bổng thường xuyên của triều đình lại vừa phải trải qua một chế độ tuyển chọn tương đối qui củ và chế độ khảo khóa nghiêm ngặt. Nhờ thế, vương triều Lý cũng như thể chế chính trị thời Lý mới có điều kiện tồn tại vững vàng trong hơn hai thế kỷ, góp phần đưa quốc gia Đại Việt thời Lý phát triển lên một bước mới.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>2. Cách tổ chức lực lượng quốc phòng thời Lý</strong><strong> </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Để tăng cường bảo vệ nhà nước quân chủ cũng như bảo vệ quốc gia Đại Việt non trẻ, nhà Lý đã xây dựng được một lực lượng quốc phòng khá hùng hậu, thể hiện ở cách thức tổ chức quân đội của nhà Lý.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Quân đội thời Lý được phiên chế thành hai loại: Quân trong và quân ngoài. Quân trong còn gọi là <em>cấm quân</em>, hay <em>cấm binh. </em>Loại quân này luôn đóng ở trong thành và có nhiệm vụ bảo vệ kinh thành. Quân ngoài là quân ở các phủ, lộ, châu, tức là quân đội ở các địa phương, gọi là <em>lộ quân </em>hay <em>sương quân. </em>Ngoài ra, vào thời kỳ này còn có thêm lực lượng dân binh, tức <em>hương binh </em>ở đồng bằng và <em>thổ binh </em>ở miền núi. Dưới thời Lý, cấm binh tinh nhuệ hơn binh lính ở các phủ, lộ, châu, nhưng khi có chiến tranh thì quân ở các phủ, lộ, châu với số lượng đông đảo lại là lực lượng đóng góp quan trọng.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong><em>Tổ chức quân cấm vệ </em></strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Ngay từ những năm đầu triều Lý, để chỉnh đốn lực lượng bảo vệ vua và triều đình, vua Lý Thái Tổ đã chú ý ngay tới lực lượng cấm quân, năm 1011 nhà vua đã cho đặt quân Tả Hữu túc xạ (tức quân theo hầu xe vua, gồm 2 đội tả và hữu). Mỗi đội 500 người60.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Năm 1028, khi vừa lên ngôi, vua Lý Thái tông cũng đã tăng cường ngay lực lượng cấm quân để bảo vệ kinh thành. Đặt 10 vệ cấm quân là: Quảng Thánh, Quảng Vũ, Ngự Long, Bổng Nhật và Trừng Hải. Mỗi vệ lại chia ra làm hai Tả, Hữu trực, đi quanh để bảo vệ cấm thành61. Mỗi vệ quân có 200 người, đều có tả hữu và phải túc trực thường xuyên62. Năm 1051, Vua Lý Thái Tông còn cho đặt Tuỳ xa long quân ở trong và ngoài thành63 (tức quân theo xe vua). Tả kiêu vệ tướng quân Trần Nẫm được cử trông coi đội quân này.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Năm 1059, vua Lý Thánh Tông cho định quân hiệu, tên gọi là: Ngự Long, Vũ Thắng, Long Dực, Thần Điện, Bổng Thánh, Bảo Thắng, Hùng Lược và Vạn Tiệp. Mỗi loại quân hiệu này đều chia ra làm: tả và hữu. Cấm quân thì đều phải thích lên trán ba chữ <em>Thiên tử quân</em>64.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Năm 1104, Vua Lý Nhân Tông đã cho định lại binh hiệu của quân cấm vệ65. Tiếp đến năm 1118, lại cho tuyển đại hoàng nam, người nào khoẻ mạnh thì sung vào làm binh các đô Ngọc Giai, Hưng Thánh, Vũ Đô và Ngự Long, tất cả 350 người66.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Năm sau (1119), trước khi đi đánh dẹp động Ma Sa, vua Lý Nhân Tông đã cho duyệt cấm binh ở các binh tào Vũ Tiệp, Vũ Lâm vv… người nào khoẻ mạnh cho làm hoả đầu ở các đội quân Ngọc Giai, Hưng Thánh, Bổng Nhật, Quảng Thánh, Vũ Đô, người nào kém hơn thì cho làm binh67.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Cấm binh ngoài việc thích trên trán ba chữ <em>Thiên tử quân</em>, còn được xăm mực hình rồng vào người. Năm 1118, vua Lý Nhân Tông còn ra lệnh “cấm nô bộc của các nhà dân trong ngoài kinh thành không được thích dấu mực vào chân như cấm quân cùng là xăm hình rồng ở mình, ai phạm thì sung làm quan nô”68.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Quân đội nhà Lý nói chung và cấm quân nói riêng phải tuân theo một kỷ luật nghiêm ngặt. Năm 1028, khi đem quân đến đánh dẹp quân của Khai Quốc vương ở phủ Trường Yên, vua Lý Thái Tông đã hạ lệnh cho quân sĩ rằng: “ai cướp bóc của cải của dân thì chém”69. Quân lính mà bỏ trốn cũng bị phạt rất nặng. Năm 1042, triều đình có chiếu chỉ rằng: “các quan chức đô (chức quan chỉ huy quân cận vệ), ai bỏ trốn thì phạt 100 trượng, thích vào mặt 50 chữ và xử tội đồ. Các quân sĩ trốn vào núi rừng và đồng nội cướp của người thì xử 100 trượng, thích vào mặt 30 chữ. Người coi trấn trại mà bỏ trốn thì cũng phạt như thế ”70. Năm sau (1043), triều đình lại tiếp tục xuống chiếu rằng: “quân sĩ bỏ trốn quá một năm, xử 100 trượng, thích vào mặt 50 chữ, chưa đến 1 năm thì xử theo mức tội nhẹ, kẻ nào quay lại thì cho về chỗ cũ. Quân sĩ không theo xa giá cũng xử trượng như thế và thích vào mặt 10 chữ”71.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Cấm quân thời Lý có vai trò quan trọng hơn quân ở ngoài các châu, lộ. Ngoài nhiệm vụ bảo vệ kinh đô mới của quốc gia Đại Việt trong đó có nhà vua và hoàng tộc, cấm quân còn là lực lượng chủ yếu để dẹp trừ bạo loạn, đặc biệt là các sự biến cung đình. Vào năm 1028, trước loạn tam vương, Vũ vệ tướng quân Lê Phụng Hiểu đã chỉ huy quân cấm vệ dẹp loạn bảo vệ ngôi vua cho Lý Thái Tông. Trong vụ dẹp loạn Đỗ Anh Vũ năm 1150, cấm quân cũng đóng vai trò quan trọng. Trong những lần vua Lý đi chinh phạt dẹp loạn ở một số địa phương, cấm quân cũng từng là lực lượng nòng cốt tham gia dưới trướng của nhà vua. Vai trò nòng cốt của cấm quân nhà Lý biểu hiện rõ nét trong cuộc kháng chiến chống Tống, khi Lý Thường Kiệt chỉ huy cấm quân kết hợp với quân các châu lộ “tiên phát chế nhân”(1075) và đánh trận quyết chiến chiến lược trên chiến trường Như Nguyệt năm 1077.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Vì cấm quân đóng vai trò quan trọng như vậy nên vào thời Lý cấm quân được hưởng chế độ lương lộc của triều đình. Cấm quân cứ mỗi năm mỗi người được cấp 10 bó lúa. Ngày Khai hạ (mồng 7 tháng giêng) hàng năm mỗi người được cấp 3 tiền và một tấm vải nhỏ. Ngày tết Nguyên Đán, trong lễ đại triều hội, ban ăn thì có các thứ bánh tây, cá mắm và cơm gạo nếp cái. Lương bổng thì đều cấp bằng gạo tẻ72.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong><em>Tổ chức quân ở các phủ lộ châu </em></strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Ngoài việc tăng cường lực lượng quân chính qui bảo vệ kinh thành và chính quyền quân chủ, nhà Lý còn chú ý tăng cường lực lượng quân đội đóng ở các phủ, châu, lộ do các trấn thủ chỉ huy.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Quân đội loại này dưới thời Lý không có số lượng nhất định. Dân đinh cứ đến tuổi hoàng nam (18 tuổi) và đại hoàng nam (20 tuổi) là phải ghi vào sổ vàng và phải có nghĩa vụ vào quân đội. Quân đội ở các phủ, lộ, châu được chia làm hai hạng. Binh lính ở các châu miền xuôi gọi là chính binh. Binh lính ở miền thượng du và các châu xa gọi là phiên binh. Phiên binh được chia thành từng đội riêng không cho lẫn lộn với chính binh.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Từ thời Lý Thần Tông (1128 – 1138), nhà vua đã đặt lệ cho quân lính các lộ chia nhau phục dịch mỗi phiên một tháng, hết hạn lại trở về làm ruộng, để phiên khác ra thay gọi là chế độ <em>ngụ binh ư nông</em>. Lực lượng chính của quân đội ở các châu lộ hay là quân ngoài vào thời Lý phần lớn đều xuất thân từ nông dân các làng xã. Nên với chính sách <em>ngụ binh nông </em>của nhà Lý, những nông dân mặc áo lính khi hữu sự họ sẵn sàng ra trận, khi hết chiến tranh, họ lại trở về với đồng ruộng của mình. Vì thế chỉ có cấm binh mới được hưởng chế độ lương lộc của triều đình, còn quân các phủ, châu, lộ thì phải tự túc. Sách <em>Lịch triều hiến chương loại chí, </em>mục Binh chế chí cũng nói rõ rằng “ngoại binh thì không có lương, cứ luân phiên đến canh, hết phiên canh cho về nhà cày cấy trồng trọt để tự cấp73”. Trong sách <em>Việt sử tiêu án </em>Ngô Thì Sĩ cũng đánh giá cao về chế độ “tự túc binh cường”này của nhà Lý “Chế độ binh lính của nhà Lý…mỗi tháng lên cơ ngũ một lần gọi là đi canh, hết hạn canh lại về làm ruộng, quân không phải cấp lương…không cần phí tổn nuôi lính mà có công hiệu dùng sức lính, cũng là chế độ hay”74.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong><em>Phép chọn lính </em></strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Để có được một lực lượng quân đội hùng hậu bảo vệ đất nước và vương triều, nhà Lý đã đề ra phép tuyển chọn binh lính bằng cách cho kiểm soát hộ tịch thật là nghiêm ngặt. Dân đinh đến 18 tuổi đều phải biên tên vào sổ bìa vàng, gọi là hoàng nam, đến 20 tuổi thì gọi là đại nam (hay đại hoàng nam). Nhà Lý qui định, ai nuôi tư nô chỉ được nuôi những người ch-ưa đến tuổi hoàng nam. Người nào nuôi giấu những hạng hoàng nam, đại nam thì phải phạt tội. Năm 1043, vua Lý Thái Tông xuống chiếu cho các quan chức đô( quan chức đô – quan giữ việc cai quản quân cấm vệ), cứ ba người cùng được nuôi một người làm gia nô, nếu người nào nuôi ẩn giấu một đại nam thì cả ba người cùng phải tội75. Để bảo vệ đại hoàng nam một lực lượng quan trọng sung vào quân ngũ, vua Lý tiếp tục “xuống chiếu cho các quan chức cứ 3 người cùng đảm bảo cho một người, nếu có ai chứa giấu đại nam thì ba người bị tội cả”76. Sau đó, năm 1083, vua Lý Nhân Tông còn cho kiểm soát lại số hoàng nam, định làm ba bậc (Đại hoàng nam, Hoàng nam và Tiểu hoàng nam)77. Sách <em>Toàn thư </em>ghi cụ thể hơn là năm 1083 vào “mùa xuân, vua thân duyệt các hoàng nam định làm 3 bậc”78. Nhờ có cách kiểm soát dân đinh chặt chẽ nhà Lý mới tiến hành tuyển dân vào lính được thuận tiện.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Năm 1160, vua Lý Anh Tông sai Tô Hiến Thành và Phí Công Tín tuyển dân đinh, người nào mạnh khoẻ thì sung vào quân ngũ và cho chọn các tướng hiệu, người nào thông thạo binh pháp, am tường võ nghệ thì chia cho cai quản79.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Đến đời vua Lý Cao Tông (năm 1179), triều đình lại cho tuyển các đinh nam, người nào mạnh khoẻ sung vào quân ngũ80.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Đối với việc tuyển người vào quân cấm vệ, nhà Lý cũng lưu ý tới những gia đình nhiều đinh hoặc ít đinh. Năm 1146, vua Lý Anh Tông đã xuống chiếu cho các quan, quản giáp và chủ đô, khi tuyển người sung vào cấm quân thì phải chọn ở những nhà đông người, không được lấy con nhà cô độc, làm trái bị trị tội81.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Tuy nhiên, vào thời Lý và cả thời Trần sau đó, phép tuyển binh cụ thể ra sao chưa thể biết rõ. Nói chung, người nào trúng tuyển thì sung vào quân ngũ, người hạng kém thì biên tên vào sổ, có việc mới gọi ra, niên hạn cũng không nhất định và bao nhiêu đinh lấy một lính cũng không rõ82.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Với việc xây dựng lực lượng quân đội và cách tuyển chọn như trên, nhà Lý đã có được một tổ chức quân đội khá vững mạnh. Khi bàn về nền binh bị qua các thời đại, Phan Huy Chú đã viết trong sách <em>Lịch triều hiến chương loại chí, </em>mục <em>Binh chế chí </em>rằng: “Cái chiến công dẹp quân Chiêm, phá quân Tống (Lý Thái Tông dẹp quân Chiêm Thành, Lý Nhân Tông phá quân Tống), cái oai hùng hai lần đánh bại quân Nguyên (Trần Nhân Tông hai lần phá quân Nguyên), cũng đủ cho biết cái binh lực của hai đời cường thịnh thế nào”83.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Quân đội thời Lý có hai bộ phận là: quân bộ và quân thuỷ. Quân bộ có các binh chủng: bộ binh, tượng binh, kỵ binh và lính cung nỏ. Quân thuỷ có những đội thuyền lớn như chiến hạm và thành thạo thuỷ chiến, từng hành quân sang đất Tống trong chiến dịch “tiên phát chế nhân”của Lý Thường Kiệt</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Quân đội thời Lý số lượng cụ thể như thế nào sử sách không ghi rõ. Chỉ biết năm 1025, vua Lý Thái Tổ đã cho “định binh làm giáp, mỗi giáp 15 người, dùng một người làm quản giáp. Lại định các cấp bậc quản giáp”84.</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong><em>Ban chỉ huy </em></strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Vào thời Lý, chức quan đứng đầu hàng võ là Đô thống. Ban chỉ huy lúc đó có thể gồm những chức quan võ lớn ở kinh thành như: Nguyên súy, Tổng quản Khu mật sứ, Khu mật tả hữu sứ, Tả hữu kim ngô Thượng tướng, Đại tướng, Đô tướng, các Vệ tướng quân, Chỉ huy sứ85…</span></p>
<p><span style="color:#003366;"><strong>3. Xây dựng nền Nền pháp chế quốc gia </strong></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Cùng với việc xây dựng lực lượng quốc phòng, bảo vệ quốc gia Đại Việt non trẻ và tăng cường sức mạnh cho nhà nước quân chủ, nhà Lý cũng đã chú ý tới nền pháp chế của đất nước. Nền pháp chế của quốc gia Đại Việt thời Lý được hình thành với việc ban hành bộ luật thành văn đầu tiên trong lịch sử, đó là bộ <em>Hình thư. </em>Vào năm 1042, vua Lý Thái Tông sai quan Trung thư san định các luật lệnh cũ và châm chước thói tục trong dân gian biên soạn thành bộ Hình thư. Về việc này biên niên sử đã ghi cụ thể rằng: “Trước kia, việc kiện tụng trong nước phiền nhiễu, quan lại giữ luật pháp câu nệ luật văn, cốt làm cho khắc nghiệt, thậm chí nhiều người bị oan uổng quá đáng. Vua lấy làm thương xót, sai Trung thư san định luật lệnh, châm chước cho thích dụng với thời thế, chia ra môn loại, biên thành điều khoản, làm thành sách <em>Hình thư </em>của một triều đại, để cho người xem dễ hiểu. Sách làm xong xuống chiếu ban hành, dân lấy làm tiện. Đến đây phép xử án được bằng thẳng rõ ràng”86.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Bộ Hình thư ra đời đánh dấu một bước tiến quan trọng trong đời sống pháp luật của đất nước. Vì trước đó vào thời Đinh và Tiền Lê, nhà nước chưa có một hệ thống pháp luật. Khi bộ luật được ban hành giúp cho việc xử án trong nước được thuận lợi và rõ ràng. Nên cùng lúc ban bố bộ luật, vua Lý đã cho đổi niên hiệu là Minh Đạo và cho đúc tiền mang niên hiệu Minh Đạo87.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Hình thư thời Lý – bộ luật thành văn đầu tiên được soạn gồm 3 quyển88 nhưng đến nay đã bị thất truyền. Tuy bộ luật không còn, để tiếp cận với từng luật định nhưng qua nhiều pháp lệnh còn ghi lại trong biên niên sử, chúng ta cũng có thể hình dung phần nào về tính chất của nền luật pháp thời Lý.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Tháng 11 năm 1042, ngay sau khi ban bố Hình thư, nhà Lý đã có những điều luật qui định bổ sung về việc chuộc tội cho những đối tượng là người già và trẻ em, người đau yếu và những thân thuộc của nhà vua, bao gồm “những người từ 70 tuổi trở lên, 80 tuổi trở xuống, từ 10 tuổi trở lên, 15 tuổi trở xuống và những người ốm yếu cho đến những thân thuộc của nhà vua để tang từ 9 tháng, 1 năm trở lên, phạm tội thì cho chuộc, nếu phạm tội thập ác89 thì không được theo lệ này”90. Năm 1071, lại qui định thêm về mức nộp tiền chuộc là “người được nộp tiền chuộc tội phải tuỳ theo tội nặng hay nhẹ mà bắt nộp tiền nhiều ít khác nhau”91.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Đối với nhà nước quân chủ cũng như lợi ích của tầng lớp quí tộc quan liêu, luật pháp thời Lý luôn đứng ra bảo vệ. Nhà Lý đã ban hành những điều luật nghiêm ngặt bảo vệ nơi ở và làm việc của vua và triều đình, như khu vực Hoàng thành, cung điện… Năm 1060, vua Lý Thánh Tông ban lệnh cấm “lính Ngự thuyền hoả, Củng thánh hoả, Tuỳ long hoả và bọn nhà bếp không được ra vào thềm Ngự, không được nói chuyện với bọn tiểu chi hậu và đưa tin tức, trao đồ vật, đi lại với nhau. Kẻ nào trái lệnh bị tội chết, gặp khi xá tội cũng không được tha”92. Năm 1150, vua Lý Anh Tông xuống chiếu “cấm bọn hoạn quan không được tự tiện vào trong cung, ai phạm thì bị tội chết. Nếu canh giữ không cẩn thận để người khác vào cung cũng bị tội như thế”93. Đối với các quan làm việc trong triều, cũng có lệnh cấm “không được đi lại nhà các vương hầu, ở trong cung cấm không được hội họp nhau năm ba người bàn luận chê bai, ai phạm thì bị trị tội. Kẻ nào phạm việc qua lại bên ngoài phía đầu hành lang chứa khí giới của đô phụng quốc vệ thì xử 80 trượng, tội đồ ; nếu vào trong hành lang ấy thì xử tử. Linh phụng quốc vệ trong hành lang ấy có chiếu chỉ mới được cầm khí giới, không có chiếu chỉ mà tự tiện mang khí giới đi quá ra ngoài phía đầu hành lang thì xử tử”94.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Đối với những người có thái độ chống đối nhà vua hoặc triều đình, nhà Lý cũng đã có những hình phạt thích đáng, thậm chí xử tội chết. Biên niên sử còn ghi lại sự kiện vào năm 1035, vua Lý Thái Tông khi thân chinh đi đánh dẹp vụ nổi loạn ở châu Ái, có Định Thắng vương Nguyễn Khánh đi theo, nhưng Nguyễn Khánh đã ngấm ngầm cấu kết với nhà sư họ Hồ và mấy người em nuôi là Đô thống Đàm Toái Trạng, Hoàng đệ là Thắng Càn và Thái Phúc ở lại kinh sư, mưu làm phản. Được tin, nhà vua “xuống chiếu bắt bọn Khánh đóng cũi đưa về kinh sư”95, rồi sau đó chính nhà vua đã phải ra ngự tại điện Diên Khánh để xét án những người phản nghịch này. Nguyễn Khánh, sư Hồ “đều phải xẻo thịt băm xương ở chợ Tây, còn những người khác thì xét theo tội nặng nhẹ”96. Vào thời Lý còn có một loại hình phạt rất thảm khốc giống thời cổ là đóng người vào đinh trên một tấm gỗ đem bêu ở chợ rồi mới mang ra pháp trường. Sử cũ ghi vào năm 1109, vua Lý xét án nghịch đảng Tô Hậu, Kỷ Sùng97. Hai người này đều phải “lên ngựa gỗ”mà chết98. Năm 1192, có người tên là Lê Vãn ở giáp Cổ Hoằng (Hoằng Hoá, Thanh Hoá ) làm phản. Cũng bị đóng cũi đưa về kinh sư và cũng bị “lên ngựa gỗ”mà chết99.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Đối với những người bị mắc tội phản quốc, hình phạt thời Lý cũng rất tàn khốc. Ngay từ khi bộ Hình thư chưa ra đời, nhà Lý cũng đã có những hình phạt rất thích đáng đối với những kẻ đào vong hại nước. Năm 1011, sau khi vua Lý Thái Tổ được vua Tống phong làm Giao chỉ quận vương, nhà vua đã cử viên ngoại lang là Lý Nhân Nghĩa và Đào Khánh Văn sang thăm nước Tống để đáp lễ vua Tống, nhưng Khánh Văn đã trốn ở lại nước Tống, bị người Tống bắt trả lại . Vua Lý Thái Tổ đã cho xử tội bằng cách đánh gậy chết100.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Đối với dân đinh, nguồn nhân lực bổ sung thường xuyên cho quân ngũ và tăng cường sức lao động cho sản xuất nông nghiệp cũng được nhà Lý bảo vệ bằng pháp luật. Năm 1042, sau khi ban hành bộ Hình thư, nhà Lý còn định rõ điều mục về các lệnh cấm, trong đó có lệnh cấm về bán hoàng nam. Điều lệnh qui định rằng”ai bán hoàng nam ở dân gian làm nô bộc tư gia, nếu đã bán rồi thì phạt 100 trượng và thích 20 chữ vào mặt; chưa bán mà đã phục dịch người ta thì phạt 100 trượng và thích 10 chữ vào mặt. Kẻ tri tình mà cứ mua, cũng phạm tội, nhưng giảm xuống một bậc”101. Năm 1043, vua Lý Thái Tông còn ra lệnh phạt những người chứa giấu đại hoàng nam. Nhà vua xuống chiếu cho các quan chức “cứ ba người cùng đảm bảo cho một người, nếu có ai chứa giấu đại nam thì ba người bị tội cả”102.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Đối với các quan lại làm việc thu thuế cho nhà nước cũng được luật pháp nhà Lý qui định cụ thể và xử phạt những trường hợp sai phạm. Năm 1042, nhà Lý qui định về việc phú thuế của trăm họ “cho phép người thu, ngoài 10 phần phải nộp quan, được lấy thêm 1 phần nữa, gọi là hoành đầu. Lấy quá thì xử theo tội ăn trộm, trăm họ có người tố cáo được tha phú dịch cho cả nhà trong 3 năm, người ở kinh thành mà cáo giác thì thưởng cho bằng hiện vật thu được”103.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Luật pháp thời Lý có điều luật rất nghiêm về việc trị tội kẻ ăn cắp, ăn trộm. Năm 1043, vua Lý Thái Tông có chiếu chỉ “nếu kẻ nào ăn cướp lúa mạ và tài vật của dân, nếu đã lấy rồi thì xử 100 trượng, nếu chưa lấy được nhưng làm cho người bị thương thì xử tội lư-u”104. Năm 1122, vua Lý Nhân Tông lại xuống chiếu rằng: “Những tên trộm cướp trốn tránh đã bắt được mà laị bị nhà thế gia chiếm đoạt thì nhà thế gia ấy cùng tội với người trốn. Kẻ lại đi bắt trộm cướp, bắt được rồi mà giữ lại ở nhà mình, không dẫn đến quan thì phạt đánh 80 trượng”.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Để bảo vệ sức kéo trong nông nghiệp, nhà Lý đã có luật định rất nghiêm ngặt.Tháng 2, năm 1117, vua Lý định rõ lệnh “cấm giết trâu…kẻ mổ trộm trâu thì phạt 80 trượng, đồ làm khao giáp (phục dịch trong quân), vợ xử 80 trượng, đồ làm tang thất phụ (làm việc ở nhà chăn tằm) và phải bồi thường trâu, láng giềng biết mà không tố cáo, phạt 80 trượng105.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Đối với chế độ tư hữu ruộng đất, nhà Lý cũng có điều luật bảo vệ. Năm 1142, Lý Anh Tông, ban chiếu rằng: “Những người cầm ruộng thục trong vòng 20 năm thì cho phép chuộc lại, việc tranh nhau ruộng đất trong vòng 5 năm hay 10 năm còn được tâu kiện; ai có ruộng đất bỏ hoang bị kẻ khác cày cấy trồng trọt trong vòng 1 năm thì được kiện mà nhận, quá hạn ấy thì cấm. Làm trái thì xử 80 trượng. Những ruộng hoang ruộng thuộc đã bán đứt thì không được chuộc, làm trái thì cũng bị tội như trên. Nếu tranh ruộng ao mà lấy đồ binh khí nhọn sắc đánh chết hay làm bị thương người thì đánh 80 trượng, xử tội đồ, lấy ruộng ao trả lại cho người chết hoặc bị thương”106. Cùng năm này, vua Lý Anh Tông lại xuống chiếu cho “những người bán đoạn ruộng hoang hay ruộng thục đã có văn khế rồi thì không được chuộc lại nữa, ai làm trái bị phạt đánh 80 trượng”107. Năm 1145, nhà vua lại xuống chiếu rằng: “những người tranh ruộng ao của cải không được nhờ cậy nhà quyền thế, làm trái thì đánh 100 trượng, xử tội đồ”108.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Ngoài ra pháp luật thời Lý cũng đã giành nhiều đặc quyền đặc lợi cho tầng lớp quí tộc quan liêu, từ nhà cửa, trang phục, đồ dùng vv…</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Với việc ra đời của bộ Hình thư và những luật lệnh khác ban hành vào thời Lý đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong đời sống pháp luật của Việt Nam thời kỳ này. Tuy tính hiệu quả còn chưa cao nhưng chắc chắn nó mang tính tích cực nhất định vì kể từ khi bộ luật được ban hành thì “dân đều lấy làm tiện”. Đó là tính ưu việt và tiến bộ hơn hẳn so với thời kỳ trước khi chưa có bộ luật.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">* * *</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Chế độ chính trị được xây dựng dưới thời Lý trong các thế kỷ XI – XIII, tuy chưa thật hoàn mỹ như ở các thời kỳ sau, song với thể chế thống nhất và ổn định ấy cũng đã đủ giúp nhà Lý quản lý được một đất nước có nền kinh tế và quốc phòng vững mạnh, góp phần đẩy lùi những nạn ngoại xâm lớn đang đe dọa tới vận mệnh của dân tộc ( quân Tống ở phía Bắc, quân Chiêm ở phía Nam) và tạo tiền đề cho nhà Lý xây dựng được một nền văn hóa Thăng Long mang đậm dấu ấn lịch sử.</span></p>
<p>——————————————————————</p>
<p>1 Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Quan chức chí, tập II, 206 trang, Bản dịch Nxb Sử học, Hà Nội 1961, tr. 23.</p>
<p>2 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>Bản dịch Nxb Khoa học xã hội năm 1983, tập I, 368 trang,, quyển 3, tr..315.</p>
<p>3 <em>Đại việt sử ký toàn th</em>ư tập I, quyển 2, Sđd, tr..295. <em>Việt sử thông giám cương mục</em>, Chính biên, tập I, 1207 trang, quyển 3, Bản dịch Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr. 360</p>
<p>. 4 Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Quan chức chí, tập II, Sđd , tr.23.</p>
<p>5 Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Quan chức chí, tập II, Sđd, tr. 23.</p>
<p>6 Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Quan chức chí, tập II, Sđd, tr. 19.</p>
<p>7 <em>Đại việt sử ký toàn thư</em>, tập I, quyển 1, Sđd, tr.239. Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Quan chức chí, tập II, Sđd, tr. 20.</p>
<p>8 Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Quan chức chí, tập II, Sđd, tr. 20.</p>
<p>9 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>tập I, quyển 3, Sđd, tr..299. <em>Việt sử thông giám cương mục</em>, Chính biên, tập I, quyển 4, Sđd tr. 367.</p>
<p>10 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>tập I, quyển 2, Sđd, tr..280. <em>Việt sử thông giám cương mục, </em>Chính biên, tập I, quyển 3, Sđd tr. 349. Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Nhân vật chí, tập I, 352 trang, Bản dịch Nxb Sử học, 1961, tr. 182.</p>
<p>11 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>tập I, quyển 4, Sđd, tr. 344. Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Nhân vật chí, tập I, Sđd, tr. 183.</p>
<p>12 Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Quan chức chí, tập II, Sđd, tr. 19.</p>
<p>13 Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Quan chức chí, tập II, Sđd, tr. 21.</p>
<p>14 Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Quan chức chí, tập II, Sđd, tr. 7.</p>
<p>15 Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Quan chức chí, tập II, Sđd, tr. 21.</p>
<p>16 <em>Đại việt sử ký toàn thư</em>, tập I, quyển 1,Sđd, tr. 239.</p>
<p>17 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>tập I, quyển 2, Sđd, tr. 256 – 257.</p>
<p>18 Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Quan chức chí, tập II, Sđd, tr. 21.</p>
<p>19 Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Quan chức chí, tập II, Sđd, tr. 6.</p>
<p>20 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>tập I, quyển 3, Sđd, tr..303.</p>
<p>21 <em>Đại việt sử ký toàn th ư</em>, tập I, quyển 3, Sđd, tr..309. <em>Việt sử thông giám cương mục</em>, Chính biên, tập I, quyển 4, Sđd tr. 374.</p>
<p>22 Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Quan chức chí, tập II, Sđd, tr. 22.</p>
<p>23 <em>Thơ văn Lý – Trần, </em>Bản dịch Viện Văn học, Hà Nội năm 1977, tập I, 631 trang, tr. 395, 402 và 411. Nguyên văn chữ Hán là: 天符睿武二年。辛丑。七月。初六日。立碑。朝列型部尚書。部員外郞。同知蕃工院諸事。阮公弼奉勅撰。右侍郞尚書工部員外郞。同知审刑院事。上轻车都尉紫金 鱼李宝弓奉勅书。</p>
<p>24 <em>Thơ văn Lý – Trần</em>, tập I, Sđd, tr. 335.</p>
<p>25 <em>Thơ văn Lý – Trần</em>, tập I, Sđd, tr. 521.</p>
<p>26 <em>Thơ văn Lý – Trần</em>, tập I, Sđd, tr. 525.</p>
<p>27 <em>Thái uý Đỗ Anh Vũ sau được đổi làm họ Lý nên mới gọi là Thái uý Lý công.</em><em> </em></p>
<p><em> </em>28 <em>Thơ văn Lý – Trần</em>, Tập I, Sđd, tr. 468. Nguyên văn chữ Hán là: 神宗朝丁未岁迭侍帷幄。位冠六尚。</p>
<p>29 Bốn học trò của Khổng Tử được thờ phụ với thày ở Văn Miếu là Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tử và Mạnh Tử.</p>
<p>30 72 học trò giỏi của Khổng Tử.</p>
<p>31 <em>Đại việt sử ký toàn thư </em>, tập I, quyển 3, Sđd, tr.287. <em>Việt sử thông giám cương mục, </em>Chính biên, tập I, quyển 3, Sđd tr. 345.</p>
<p>32 <em>Đại việt sử ký toàn th ư</em>, tập I, quyển 2, Sđd, tr.242. <em>Việt sử thông giám cương mục, </em>Chính biên, tập I, quyển.2, Sđd tr. 286.</p>
<p>33 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>tập I, quyển 2, Sđd, tr.243. <em>Việt sử thông giám cương mục, </em>Chính biên, tập I, quyển.2, Sđd tr. 287.</p>
<p>34 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>tập I, quyển 2, Sđd, tr.246. <em>Việt sử thông giám cương mục</em>, Chính biên, tập I, quyển.2, Sđd tr. 292</p>
<p>35 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>tập I, quyển 2, Sđd, tr.250. <em>Việt sử thông giám cương mục</em>, Chính biên, tập I, quyển 2, Sđd tr. 297.</p>
<p>36 <em>Đại việt sử ký toàn thư </em>, tập I, quyển 2, Sđd, tr.265. <em>Việt sử thông giám cương mục</em>, Chính biên, tập I, quyển.2, Sđd tr. 313.</p>
<p>37 <em>Thơ văn Lý – Trần, </em>tập I, Sđd, tr.374 – 375.</p>
<p>38 <em>Thơ văn Lý – Trần, </em>tập I, Sđd, tr.375.</p>
<p>39 Lý Tế Xuyên, <em>Việt Điện U linh, </em>Bản dịch NXB Văn học, Hà Nội, 1972, 173 trang, tr.53.</p>
<p>40 <em>Đại việt sử ký toàn thư</em>, tập I, quyển 2, Sđd, tr..243.</p>
<p>41 <em>Đại việt sử ký toàn thư</em>, tập I, quyển 2, Sđd, tr..253 – 254.</p>
<p>42 <em>Đại việt sử ký toàn th</em>ư, tập I, quyển 3, Sđd, tr. 286.</p>
<p>43 <em>Đại việt sử ký toàn thư</em>, tập I, quyển 3, Sđd, tr. 318.</p>
<p>44 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>tập I, quyển 3, Sđd, tr. 322.</p>
<p>45 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>tập I, quyển 4, Sđd, tr. 356.</p>
<p>46 <em>Việt sử lược, </em>Bản dịch Nhà xuất bản Văn Sử Địa, Hà Nội, 1960, 221 trang, tr. 65.</p>
<p>47 <em>Việt sử lược, </em>Sđd, tr. 69.</p>
<p>48 <em>Ngụy việt ngoại ký, </em>dẫn theo sách Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, tập I, NXB Giáo Dục, 1960 của Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, 503 trang, tr. 202 – 203.</p>
<p>49 Cao Hùng Trưng <em>An Nam chí nguyên </em>, q. 1 ( mục phố phường, ngoại thành, hương trấn), Bản dịch đánh máy, Viện Sử học, tr. 81.</p>
<p>50 Quốc sử quán triều Nguyễn <em>Đại nam nhất thống chí, </em>Bản dịch Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, tập IV, 410 trang, tr. 56.</p>
<p>51 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>tập I, quyển 2, Sđd, tr..259.</p>
<p>52 Lý Tế Xuyên <em>Việt điện u linh</em>, Sđd, tr. 53.</p>
<p>53 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>tập I, quyển 2, Sđd, tr..253.</p>
<p>54 Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Quan chức chí, tập II, Sđd, tr. 7 và 30. 55 Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Quan chức chí, tập II, Sđd, tr. 7 và 31. 56 <em>Việt sử lược, </em>Sđd, tr.84. 57 <em>Đại việt sử ký toàn thư</em>, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 271. 58 <em>Đại việt sử ký toàn thư</em>, tập I, quyển 3, Sđd, tr.321.</p>
<p>59 Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí, </em>Quan chức chí, tập II, Sđd, tr. 69.</p>
<p>60 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 243. Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Binh chế chí, tập IV, 287 trang, Sđd, tr.5.</p>
<p>61 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 257. Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Binh chế chí, tập IV, Sđd, tr.5.</p>
<p>62 Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Binh chế chí, tập IV, Sđd, tr.5.</p>
<p>63 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 278. Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Binh chế chí, tập IV, Sđd, tr.5.</p>
<p>64 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 283.</p>
<p>65 <em>Đại việt sử ký toàn thư,</em>bản kỷ, tập I, quyển 3, Sđd, tr. 298.</p>
<p>66 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 3, Sđd, tr. 303.</p>
<p>67 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 3, Sđd, tr. 304 – 305. Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Binh chế chí, tập IV, Sđd, tr.5.</p>
<p>68 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 3, Sđd, tr. 304.</p>
<p>69 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 256.</p>
<p>70 <em>Đại việt sử ký toàn thư </em>bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 271.</p>
<p>71 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 274. Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Binh chế chí, Tập IV, Sđd, tr.27.</p>
<p>72 Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Binh chế chí, Tập IV, Sđd, tr.20.</p>
<p>73 Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Binh chế chí, Tập IV, Sđd, tr.20.</p>
<p>74 Ngô Thì Sĩ <em>Việt sử tiêu án </em>Văn hoá Á châu xuất bản, Sài Gòn, 1960, tr. 49.</p>
<p>75 Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Quan chức chí, Tập III, 174 trang, Sđd, tr. 48.</p>
<p>76 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, quyển 2, tập I, Sđd, tr. 272.</p>
<p>77 Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Quan chức chí, Tập III, Sđd, tr. 48.</p>
<p>78 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 3, Sđd, tr. 294. <em>Việt sử thông giám cương mục, </em>Chính biên, Tập I, quyển 3, Sđd, tr. 358.</p>
<p>79 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 4, Sđd, tr. 345. Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Binh chế chí, Tập IV, Sđd, tr.16.</p>
<p>80 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 4, Sđd, tr. 350. Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Binh chế chí, tập IV, Sđd, tr.16.</p>
<p>81 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 4, Sđd, tr. 336. <em>Việt sử thông giám cương mục, </em>Chính biên, tập I, quyển 4, Sđd, tr. 400.</p>
<p>82 Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Binh chế chí, tập IV, Sđd, tr.16.</p>
<p>83Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Binh chế chí, tập IV, Sđd, tr.3.</p>
<p>84 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 250 – 251.</p>
<p>85 Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Quan chức chí, tập II, Sđd.</p>
<p>86 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, , tập I, quyển 2, Sđd, tr. 272. Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Hình luật chí, tập III, Sđd, tr.95.</p>
<p>87 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 272.</p>
<p>88 Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Văn tịch chí, tập IV, 287 trang, Sđd, tr.42.</p>
<p>89 Tội thập ác gồm có: 1. Mưu làm lâm nguy xã tắc, 2. Mưu đại nghịch là phá huỷ tôn miếu, cung khuyết, 3. Mưu bạn là nổi loạn theo giặc, 4. Ác nghịch là đánh giết ông bà, 5. Bất đạo là giết người vô tội, 6. Đại bất kính là dùng các đồ dùng giành riêng cho vua, trộm và giả mạo ấn vua, 7. Bất hiếu là mắng chửi hay không dể tang ông bà, cha mẹ, 8. Bất mục là đánh giết những người thân thuộc gần, 9. Bất nghĩa là dân giết quan, trò giết thày, lính giết tướng, 10. Loạn luân là thông dâm với họ hàng thân thuộc thê thiếp của ông cha.</p>
<p>90 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 272. <em>Việt sử thông giám cương mục, </em>Chính biên, tập I, quyển 3, Sđd, tr. 323 – 324.</p>
<p>91 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 3, Sđd, tr. 287.</p>
<p>92 <em>Việt Sử lược</em>, Sđd, tr. 97.</p>
<p>93 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, , tập I, quyển 4, Sđd, tr. 340.</p>
<p>94 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 4, Sđd, tr. 340.</p>
<p>95 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 264.</p>
<p>96 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 264.</p>
<p>97 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 3, Sđd, tr. 300, ghi là Đỗ Sùng.</p>
<p>98 <em>Việt Sử lược</em>, Sđd, tr. 123. <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 3, Sđd, tr. 300.</p>
<p>99 <em>Việt Sử lược</em>, Sđd, tr. 162. <em>Đại việt sử ký toàn thư </em>bản kỷ, tập I, quyển 3, Sđd, tr. 354.</p>
<p>100 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 243 – 244..</p>
<p>101 <em>Việt sử thông giám cương mục, </em>tập I, quyển 3, Sđd, tr. 322.</p>
<p>102 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 272.</p>
<p>103 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 271.</p>
<p>104 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 2, Sđd, tr. 274.</p>
<p>105 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 3, Sđd, tr. 302. Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Hình luật chí, tập III, Sđd, tr.95.</p>
<p>106 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 4, Sđd, tr. 333. Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Hình luật chí, tập III, Sđd, tr.95.</p>
<p>107 <em>Đại việt sử ký toàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 4, Sđd, tr. 333.</p>
<p>108 <em>Đại việt sử ký </em>t<em>oàn thư, </em>bản kỷ, tập I, quyển 4, Sđd, tr. 334. Phan Huy Chú <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em>, Hình luật chí, tập III, 174 trang, Sđd, tr.96.</p>
<p>————</p>
<p>* <strong><strong>Ghi chú của Ba Sàm: </strong></strong>Tham luận được phổ biến tại HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển”, đã được đưa lên trang Ba Sàm từ năm 2009, nhưng do bị tin tặc phá, xóa mất, nay đưa lên lại. Mời xem thêm các bài viết về cuộc hội thảo này trên BBC (riêng trang web của Hội thảo có lẽ đã bị gỡ bỏ): + <a href="http://www.bbc.co.uk/vietnamese/specials/170_viet_studies/" target="_blank">Việt Nam học trong thế kỷ 21</a>; + <a href="http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/12/081204_vietnam_study_blog.shtml" target="_blank">Thăm ban tổ chức hội thảo VN học lần ba</a>; + <a href="http://www.bbc.co.uk/vietnamese/culture/story/2008/11/081119_vu_minh_giang.shtml" target="_blank">Nghiên cứu Việt học ‘không độc quyền</a>‘;  + <a href="http://www.bbc.co.uk/vietnamese/indepth/story/2008/12/081214_viet_expansion_history.shtml" target="_blank">Đánh giá lịch sử mở rộng lãnh thổ của Việt Nam</a>; + <a href="http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/12/081209_hochiminh_rethinking.shtml" target="_blank">Kiến giải của một người Nhật về ông Hồ</a>;  +  <a href="http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/12/081206_lehai_vietstudies.shtml" target="_blank">Chủ tịch VN nói chuyện với học giả nước ngoài</a> và <strong>các tham luận đã đăng lại trên Việt Sử Ký</strong>: +  <strong><a title="Sửa “60. ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO PHẬT ĐỐI VỚI CHÍNH TRỊ TRIỀU LÝ”" href="post.php?post=1436&amp;action=edit">60. ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO PHẬT ĐỐI VỚI CHÍNH TRỊ TRIỀU LÝ</a></strong>; +  <strong><a title="Sửa “57. VĂN HÓA VIỆT NAM:TOÀN CẦU HÓA VÀ THỊ TRƯỜNG”" href="post.php?post=1418&amp;action=edit">57. VĂN HÓA VIỆT NAM:TOÀN CẦU HÓA VÀ THỊ TRƯỜNG</a></strong>; + <a title="Nguyễn Thị Lệ Hà *  Viện Sử học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam  1. Vài nét về thân thế của Nguyễn Văn Vĩnh  Nguyễn Văn Vĩnh sinh ngày 30 tháng 4 năm Nhâm Ngọ, (tức ngày 15.6.1882), tại số nhà 46 phố Hàng Giấy, Hà Nội, nguyên quán làng Phượng Dực, thuộc phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay là huyện Phú Xuyên). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, đông con ở vùng đồng chiêm trũng, quanh năm đói kém, nên bố mẹ ông phải bỏ quê ra Hà Nội kiếm sống. Tám tuổi ông làm nghề kéo quạt ở trường Thông ngôn của Pháp mở tại đình Yên Phụ.  Năm 11 tuổi nhờ chăm chỉ và ham học ông được Hiệu trưởng D’Argence đồng ý cho dự thi tuyển vào lớp thông ngôn tập sự ngạch Tòa công sứ, niên khóa 1893-1895. Ông đỗ thứ 12 trong tổng số 40 học sinh. Ông đã đỗ thủ khoa khi mới 13 tuổi và được tuyển làm phiên dịch của Tòa công sứ Lào Cai, Tòa công sứ Hải Phòng, sau lại làm thông ngôn ở Tòa công sứ Bắc Giang (từ 1902-1905)." href="http://vietsuky.wordpress.com/2012/01/24/56-nguyen-van-vinh-voi-bao-chi-va-chu-quoc-ngu/" target="_blank">56. NGUYỄN VĂN VĨNH VỚI BÁO CHÍ VÀ CHỮ QUỐC NGỮ</a>; + <a title="PGS.TS. Chương Thâu, Viện Sử học *   Khoảnh khắc giao thời giữa hai thế kỷ (XIX và XX) ở vùng Đông Á lúc bấy giờ diễn ra nhiều sự kiện trọng đại, nhất là ở Nhật và ở Trung Quốc. Vận động duy tân ở Nhật Bản, bắt đầu tới Minh Trị Thiên hoàng, đưa đến kết quả rực rỡ. Nước Nhật tiến lên thành một cường quốc, đánh thắng được nước Nga. Cả thế giới, đặc biệt là Đông Á và Đông Nam Á, thừa nhận là nhờ có duy tân, nước Nhật mới đạt được thành tựu lớn như vậy. Vận động duy tân ở Trung Quốc, bắt đầu với vua Quang Tự, gặp sự cản trở của thế lực phong kiến, rồi sự xâu xé của các liệt cường, trải nhiều biến cố mới đi đến cuộc Cách mạng Tân Hợi. Nhưng chính cuộc vận động này đã dồn dập xuất hiện rất nhiều tác phẩm lý luận chính trị xã hội, làm cho giới nho sĩ ở Trung Quốc sực tỉnh, chuyển biến theo đường lối mới, và ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nước ở trong vùng. Cả khu vực Đông Á đang bắt đầu thức tỉnh, trong đó có Việt Nam." href="http://vietsuky.wordpress.com/2012/01/22/54-phong-trao-duy-tan-dau-the-ky-xx/" target="_blank">54. PHONG TRÀO DUY TÂN ĐẦU THẾ KỶ XX</a>; + <a title="ThS. Tống Thị Quỳnh Hương *  Đại học Sư phạm Hà Nội  Đặt vấn đề Người Trung Hoa đến Việt Nam khá sớm, ít nhất cũng vào khoảng đầu Công nguyên. Trải qua nhiều thế kỉ, người Hoa đã xuất hiện trên khắp ba miền của nước ta, tuy nhiên, những người Hoa di cư đến miền Bắc chủ yếu là quan lại và binh lính của các đội quân xâm lược nhiều hơn là thương nhân đến buôn bán (ngoại trừ một bộ phận người Hoa ở Phố Hiến, Thăng Long), do vậy ở miền Bắc nước ta, những cộng đồng người Hoa thường nhỏ lẻ, không có quy mô lớn và tiêu biểu như ở miền Trung và miền Nam. Cũng như người Hoa ở các nước Đông Nam Á khác, người Hoa đến Việt Nam trải qua một quá trình sinh sống và buôn bán lâu dài, họ đã lập nên những làng, những phố của mình, hình thành nên những cộng đồng người Hoa ổn định và phát triển, trở thành một bộ phận cư dân của cộng đồng dân tộc Việt. Trong khoảng từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX, cùng với sự hình thành các cộng đồng người Hoa, ở miền Trung và Nam Việt Nam cũng đã xuất hiện nhiều đô thị, trung tâm thương mại rất sầm uất với vai trò nổi bật của các Hoa thương. Những đô thị này đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế nước ta trong nhiều thế kỉ. Một số đô thị như: Thanh Hà, Bao Vinh, Cù Lao Phố, Hội An, Chợ Lớn… đã trở thành những trung tâm buôn bán, trung chuyển hàng hóa quan trọng trong khu vực và quốc tế." href="http://vietsuky.wordpress.com/2012/01/21/53-nguoi-hoa-trung-nam-bo-vnxvii-xix/?preview=true" target="_blank">53. NGƯỜI HOA TRUNG-NAM BỘ VN (XVII-XIX)</a>;  + <a title="Sửa “52. QUAN HỆ VIỆT NAM – LIÊN XÔ 1965 – 1975”" href="../2012/01/20/52-quan-he-viet-nam-lien-xo-1965-1975/?preview=true" target="_blank">52. QUAN HỆ VIỆT NAM – LIÊN XÔ 1965 – 1975</a>;  +  <a title="TS Châu Thị Hải *  Viện Khoa học xã hội Việt Nam  Trong cuộc Hội thảo Việt Nam học lần thứ nhất được tổ chức tại Hà Nội vào mùa thu năm 1998, tôi đã có dịp đưa ra thảo luận vấn đề: Diễn biến địa lý và lịch sử trong quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hoá Việt – Hoa. Tôi có dự định sẽ thảo luận những vấn đề tiếp theo như: người Hoa với quá trình hình thành và phát triển các đô thị thương mại ở Việt Nam; người Hoa với các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc; với quá trình đổi mới đất nước; đặc biệt trong xu thế hội nhập khu vực và thế giới hiện nay,… tại cuộc hội thảo Việt Nam học lần thứ hai. Nhưng đáng tiếc là thời gian đó tôi chưa có cơ hội để tham gia." href="../2012/01/09/41-nguoi-hoa-trong-lich-su-viet-nam/" target="_blank">41. NGƯỜI HOA TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM</a>; +<a title="PGS TS. Phạm Duy Nghĩa *  Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội  Phó Giáo Sư Tiến Sĩ Phạm Duy Nghĩa tốt nghiệp Đại học Leipzig (Đức) và bảo vệ luận án TS luật năm 1991 tại đây.Hơn 10 năm học tập và giảng dạy tại các nước Mỹ, Nhật.  Tóm tắt/Từ khoá: Di sản dân luật Pháp, điều kiện du nhập pháp luật thành công, thất bại của cuộc du nhập dân luật Pháp, du nhập pháp chế xã hội chủ nghĩa, những cuộc chuyển đổi hướng tới luật pháp hỗ trợ, tạo điều kiện cho nền kinh tế thị trường, pháp luật và tự do phát triển, tự quản địa phương" href="../2012/01/21/2012/01/08/40-tu-nha-nuoc-toan-tri-toi-thoi-dai-dan-doanh-gia-tai-cua-60-nam-luat-hoc-viet-nam/" target="_blank"> 40. TỪ NHÀ NƯỚC TOÀN TRỊ TỚI THỜI ĐẠI DÂN DOANH: GIA TÀI CỦA 60 NĂM LUẬT HỌC VIỆT NAM</a>; + <a title="“Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam có hiến pháp nhưng hiến pháp không được quan niệm như chủ nghĩa hợp hiến là một công cụ để giới hạn quyền lực của nhà nước. Thay vào đó, hiến pháp được hiểu có tính giai cấp, là công cụ thực hiện quyền lực của giai cấp công nhân. Hiến pháp không phải là một bản văn trung lập mà có định hướng rõ rệt: điều tiết chính quyền để đạt tới xã hội chủ nghĩa.”" href="../2012/01/21/2012/01/09/2012/01/07/39-chu-nghia-hop-hien-o-vn/" target="_blank">39. CHỦ NGHĨA HỢP HIẾN Ở VN</a>; + <a title="ThS. Lê Tiến Công *  Đại học Phan Châu Trinh, Quảng Nam  Đặt vấn đề  Trong định hướng phát triển vùng của Chính phủ giai đoạn 2001-2010, khu vực biển và hải đảo được xác định: “tiến mạnh ra biển và làm chủ vùng biển. Phát triển tổng hợp kinh tế biển và ven biển, khai thác lợi thế của các khu vực cửa biển, hải cảng để tạo thành vùng phát triển cao, thúc đẩy các vùng khác. Xây dựng căn cứ hậu cần ở một số đảo để tiến ra biển khơi. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo vệ an ninh trên biển”1. Điều đó cho thấy vị thế quan trọng của biển, đảo trong chiến lược phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng." href="../2012/01/21/2012/01/06/38-tuan-tra-kiem-soat-vung-bien-thoi-nguyen-so1802-1858/" target="_blank">38. TUẦN TRA, KIỂM SOÁT VÙNG BIỂN THỜI NGUYỄN SƠ:1802-1858</a>; + <a title="GS. Yu Insun Đại học Quốc gia Seoul * 1. Lời nói đầu  Lịch sử Việt Nam trong giai đoạn hai nghìn năm trước cận đại không thể lí giải chính xác nếu không gắn với quan hệ về mặt chính trị với Trung Quốc. Chúng ta có thể hiểu về điều này một cách dễ dàng từ quan hệ hai nước được trình bày dưới đây.  Từ cuối thế kỷ thứ II trước Công nguyên đến nửa đầu thế kỷ thứ X sau CN, Việt Nam chịu sự thống trị trực tiếp của Trung Quốc trong một nghìn năm cho đến khi giành được độc lập. Một nghìn năm này trong lịch sử Việt Nam thường được gọi là “thời kì Bắc thuộc”. Từ sau khi thoát khỏi ách thống trị của Trung Quốc giành độc lập vào nửa đầu thế kỷ thứ X đến trước khi rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp vào nửa sau thế kỷ XIX, trong một nghìn năm, Việt Nam đã thiết lập quan hệ triều cống dưới hình thái nước phiên thuộc của Trung Quốc, vừa duy trì quan hệ thân thiện về chính trị vừa đồng thời tiếp nhận văn hóa Trung Quốc trong “trật tự thế giới kiểu Trung Hoa”, theo cách nói của người Trung Quốc." href="../2012/01/21/2012/01/09/2011/12/29/33-lich-su-quan-he-viet-nam-trung-quoc-the-ky-xix-the-che-trieu-cong-thuc-va-hu/" target="_blank">33. LỊCH SỬ QUAN HỆ VIỆT NAM-TRUNG QUỐC THẾ KỶ XIX THỂ CHẾ TRIỀU CỐNG, THỰC VÀ HƯ</a>;  + <a title="Ths. Phạm Thị Thanh Huyền Khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm Hà Nội *  Đặt vấn đề  Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, hầu hết các tôn giáo lớn trên thế giới đều có mặt ở đây (Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành giáo…). Trong quá trình phát triển đạo ở Việt Nam, các tôn giáo đã trở thành cầu nối tiếp xúc văn hoá, vì tôn giáo bản thân nó cũng chính là một thành tố của văn hoá. Do đó, không thể phủ nhận vai trò đặc biệt quan trọng của tôn giáo đối với sự phát triển của văn hoá Việt Nam." href="../2012/01/21/2012/01/09/2011/12/23/29-mot-so-dong-gop-cua-thien-chua-giao-doi-voi-van-hoa-viet-nam-the-ky-xvii-dau-the-ky-xx/" target="_blank">29. MỘT SỐ ĐÓNG GÓP CỦA THIÊN CHÚA GIÁO ĐỐI VỚI VĂN HOÁ VIỆT NAM (THẾ KỶ XVII – ĐẦU THẾ KỶ XX)</a>; + <a title="PGS.TS. Đỗ Bang *  Trường Đại học Khoa học Huế  Thiên Chúa giáo du nhập vào Việt Nam từ năm 1533, đây không chỉ là vấn đề thuần túy của tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa mà là vấn đề chính trị-xã hội rất nhạy cảm qua các thời kỳ lịch sử có chế độ chính trị khác nhau. Tính độc tôn và tính kiêu hãnh của Thiên chúa giáo cùng những nghi thức mang tính tương khắc với văn hóa truyền thống và sự lạm dụng chính trị của các thế lực bên ngoài đối với Thiên chúa giáo là nguyên nhân dẫn đến các chính sách đối với Thiên chúa giáo của nhà cầm quyền Việt Nam trong đó có triều Nguyễn." href="../2012/01/21/2012/01/09/2011/12/23/28-chinh-sach-cua-trieu-nguyen-doi-voi-thien-chua-giao/" target="_blank">28. CHÍNH SÁCH CỦA TRIỀU NGUYỄN ĐỐI VỚI THIÊN CHÚA GIÁO</a>.<strong><strong><br />
</strong></strong></p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/vietsuky.wordpress.com/1446/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/vietsuky.wordpress.com/1446/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/vietsuky.wordpress.com/1446/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/vietsuky.wordpress.com/1446/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/vietsuky.wordpress.com/1446/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/vietsuky.wordpress.com/1446/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/vietsuky.wordpress.com/1446/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/vietsuky.wordpress.com/1446/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/vietsuky.wordpress.com/1446/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/vietsuky.wordpress.com/1446/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/vietsuky.wordpress.com/1446/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/vietsuky.wordpress.com/1446/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/vietsuky.wordpress.com/1446/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/vietsuky.wordpress.com/1446/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vietsuky.wordpress.com&amp;blog=29420608&amp;post=1446&amp;subd=vietsuky&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/05/61-the-che-chinh-tri-o-viet-nam-the-ky-xi-xiii-duoi-thoi-ly/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>3</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/c3f46a060a458b1967070ec26d4dd571?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">vietsuky</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>64. Hồ Chí Minh đến Matxcơva hòa giải quan hệ Trung–Xô</title>
		<link>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/02/63-ho-chi-minh-den-matxc%c6%a1va-hoa-giai-quan-he-trung-xo/</link>
		<comments>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/02/63-ho-chi-minh-den-matxc%c6%a1va-hoa-giai-quan-he-trung-xo/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 02 Feb 2012 14:00:33 +0000</pubDate>
		<dc:creator>vietsuky</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sử liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Hồ Chí Minh]]></category>
		<category><![CDATA[Khơrutxop]]></category>
		<category><![CDATA[Liên Xô]]></category>
		<category><![CDATA[Mao-Trạch-Đông]]></category>
		<category><![CDATA[Trung Quốc]]></category>
		<category><![CDATA[Việt Nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vietsuky.wordpress.com/?p=1525</guid>
		<description><![CDATA[Tạp chí Xưa&#38;Nay Hồ Chí Minh đến Matxcơva hòa giải quan hệ Trung–Xô Dương Danh Dy * Số 359, tháng 7/2010  Sau khi bất đồng giữa hai đảng Trung Xô được công khai, Ban lãnh đạo đảng Việt Nam hết sức quan tâm. Khi hội nghị Bắc Đới Hà vừa kết thúc thì Hồ Chí Minh [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vietsuky.wordpress.com&amp;blog=29420608&amp;post=1525&amp;subd=vietsuky&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Tạp chí Xưa&amp;Nay</strong></p>
<h1><span style="color:#003366;">Hồ Chí Minh đến Matxcơva hòa giải quan hệ Trung–Xô</span></h1>
<p><strong>Dương Danh Dy *</strong></p>
<p>Số 359, tháng 7/2010</p>
<p><span style="color:#003366;"> Sau khi bất đồng giữa hai đảng Trung Xô được công khai, Ban lãnh đạo đảng Việt Nam hết sức quan tâm. Khi hội nghị Bắc Đới Hà vừa kết thúc thì Hồ Chí Minh đã tới đây gặp lãnh đạo Trung Quốc và biểu thị ông chuẩn bị đi Matxcơva khuyên hòa giải, làm công tác Khơrutxop một chút, hy vọng bất đồng Trung Xô có thể thông qua đàm phán giải quyết, Hồ Chí Minh đề nghị triệu tập ba hội nghị, trước tiên là hội đàm hai đảng Trung Xô, rồi thảo một tuyên bố, sau đó triệu tập hội nghị các đảng cộng sản và công nhân thế giới thông qua tuyên bố này.</span></p>
<p><span id="more-1525"></span></p>
<p><span style="color:#003366;">Ngày 10 – 8 – 1960, trong khi đi bơi tại bãi biển, Mao Trạch Đông đã nói chuyện với Hồ Chí Minh. Mao nói đồng chí là người có <a href="http://vietsuky.files.wordpress.com/2012/01/13.jpg"><img class="alignright  wp-image-1526" title="1" src="http://vietsuky.files.wordpress.com/2012/01/13.jpg?w=319&#038;h=272" alt="" width="319" height="272" /></a>lòng tốt, tôi thấy về cơ bản ý kiến của các đồng chí là tốt. Các đồng chí muốn tăng cường đoàn kết là tốt. Khơrutxop rút chuyên gia từ Trung Quốc về, không cho máy móc, nhưng lại cử chuyên gia và đưa máy móc tới Ấn Độ. Như thế cũng tốt. “Tôi không tin không có chuyên gia, người Trung Quốc sẽ chết hết!” Vì thế rốt cuộc ai là bè bạn, ai là kẻ thù? Vấn đề này phải làm cho rõ. Trên vấn đề này, chúng tôi và Khơrutxop có bất đồng. Hiện nay Khơrutxop là đại biểu của chủ nghĩa xét lại, tấn công vào chủ nghĩa Mác – Lênin, tấn công vào mặt trận xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản chủ nghĩa quốc tế. Ông ta tỏ ra rất thân tình với chủ nghĩa đế quốc và phái phản động các nước, cùng đứng với bọn chúng. Nghe những lời nói đó của Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh vô cùng kinh ngạc, lập tức nhận thức được “cách nói này là nghiêm trọng”.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Mặc dù vậy, Mao Trạch Đông vẫn tán thành biện pháp giải quyết bất đồng hai đảng Trung Xô bằng con đường nội bộ giữa các đảng cộng sản. Ông nói với Hồ Chí Minh, có thể thảo luận nội bộ, không tranh luận công khai, không được bộc lộ chia rẽ trước mặt kẻ thù. Trong thời gian sung đột biên giới Trung – Ấn, Khơrutxop đã để cho Tass ra một tuyên bố, nghiêng về phía Ấn Độ, chỉ trích Trung Quốc. Tuy vậy chúng tôi vẫn không muốn công khai hóa bất đồng này. Hậu quả của bất hòa Trung Xô sẽ vô cùng nghiêm trọng, vì vậy tôi tán thành đồng chí đi Matxcơva. </span></p>
<p><span style="color:#003366;">Hồ Chí Minh trao đổi với Mao Trạch Đông, ông cần nói với Khơrutxop bốn vấn đề Trung Quốc không đồng ý với Liên Xô. Thứ nhất là thời đại của chúng ta và vấn đề chủ nghĩa đế quốc, thứ hai là vấn đề chiến tranh và hòa bình, thứ ba là vấn đề chung sống hòa bình, thứ tư là vấn đề quá độ hòa bình. Ông còn chuẩn bị nói với Khơrutxop là các đồng chí Trung Quốc chủ trương dùng biện pháp bình thường để giải quyết bất đồng giữa các đảng anh em, tức xuất phát từ nguyện vọng đoàn kết thông qua thảo luận, tiến hành phê bình và tự phê bình giải quyết bất đồng giữa hai đảng Trung Xô, đạt được mục đích đoàn kết trên cơ sở mới.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Mao Trạch Đông tán thành kiến nghị của Hồ Chí Minh nói, những ý kiến của chúng tôi Matxcơva đã biết, bây giờ đồng chí hòa giải dùng tư cách người thứ ba tới nói cũng tốt.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Hồ Chí Minh thậm chí có kiến nghị, sau khi đoàn đại biểu hai đảng Trung Xô hội đàm, tốt nhất là Mao Trạch Đông nên đến Matxcơva hội đàm với Khơrutxop, nhưng Mao Trạch Đông không đồng ý nói, hiện nay người ta chửi tôi đã tới mức ngậm máu phun người, tôi tới bàn cái gì? Hơn nữa đảng tôi còn rất nhiều người, Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình còn có Bành Chân nữa, một, hai năm nữa sẽ nói. Bản thân Khơruxop đã quá nhiều, thậm chí đã nói đến muốn đưa thi thể Stalin tới Trung Quốc. Mao Trạch Đông hỏi Hồ Chí Minh, đồng chí tán thành hay không tán thành đưa thi thể Stalin tới Trung Quốc? Hồ Chí Minh trả lời để ở Liên Xô mới phải, làm sao đưa sang Trung Quốc được.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Chuyến đi hòa giải tại Matxcơva của Hồ Chí Minh ít nhiều cũng có một  số tác dụng. Trung ương  đảng cộng sản Lên Xô đồng ý hai đảng Trung Xô hội đàm và khởi thảo một tuyên bố.</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Sau khi từ Matxcơva trở về, Hồ Chí Minh gặp lại Mao Trạch Đông, và nói trên các vấn đề như tiêu diệt chủ nghĩa đế quốc, thực hành chuyên chính vô sản, làm cách mạng vô sản, xây dựng chủ nghĩa cộng sản… Khơrutxop nhất trí với ý kiến của các đồng chí Trung Quốc. Thế nhưng trong tình hình quốc tế hiện nay, trên các vấn đề như chiến tranh và hòa bình, chung sống hòa bình, quá độ hòa bình… còn có những điểm chưa nhất trí với cách nhìn của đảng cộng sản Trung Quốc. Người lãnh đạo Liên Xô chỉ trích, từ năm 1958 trở đi nhiều sự tình Trung Quốc không nói với Matxcơva và cũng không thương lượng, như việc Trung Quốc đưa ra khẩu hiệu “trăm hoa đua nở”, tiến hành “đại nhảy vọt” và phong trào cộng sản nhân dân, đề xuất gió đông thổi bạt gió tây, sửa chữa mộ Thành Cát Tư Hãn..</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Mao Trạch Đông biểu thị, thực chất của quan hệ Trung Xô là khống chế và phản khống chế. Họ muốn quản chúng tôi đến chết, chúng tôi không chống sao được? Matxcơva thực hiện chủ nghĩa nước lớn, chúng tôi không chống không được, không có dư địa cho sự thỏa hiệp ở đây. Còn đại nhảy vọt, công xã nhân dân, trăm hoa đua nở là lạp xường kiểu Trung Quốc, chúng tôi không tính tới việc bán ra ngoài!</span></p>
<p><span style="color:#003366;">Tuy vây quan hệ Trung Xô sau đó ngày một xấu đi, đó là điều mọi người đều biết.</span></p>
<p>&#8211;</p>
<p>* Bài đã được đưa lên trang Ba Sàm từ 22/8/2010, nhưng do bị tin tặc phá, xóa mất, nay đưa lên lại.</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/vietsuky.wordpress.com/1525/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/vietsuky.wordpress.com/1525/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/vietsuky.wordpress.com/1525/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/vietsuky.wordpress.com/1525/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/vietsuky.wordpress.com/1525/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/vietsuky.wordpress.com/1525/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/vietsuky.wordpress.com/1525/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/vietsuky.wordpress.com/1525/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/vietsuky.wordpress.com/1525/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/vietsuky.wordpress.com/1525/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/vietsuky.wordpress.com/1525/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/vietsuky.wordpress.com/1525/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/vietsuky.wordpress.com/1525/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/vietsuky.wordpress.com/1525/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vietsuky.wordpress.com&amp;blog=29420608&amp;post=1525&amp;subd=vietsuky&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vietsuky.wordpress.com/2012/02/02/63-ho-chi-minh-den-matxc%c6%a1va-hoa-giai-quan-he-trung-xo/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>7</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/c3f46a060a458b1967070ec26d4dd571?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">vietsuky</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://vietsuky.files.wordpress.com/2012/01/13.jpg" medium="image">
			<media:title type="html">1</media:title>
		</media:content>
	</item>
	</channel>
</rss>
